Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp. Ngành chăn nuôi ở Việt Nam là một bộ phận quan trọng cấu thành của nông nghiệp Việt Nam cũng như một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ngành chăn nuôi phản ánh thực trạng chăn nuôi, sử dụng, khai thác, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm động vật nuôi. Chăn nuôi Việt Nam có lịch sử từ lâu đời và đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo cũng như đời sống từ bao năm qua.
Ngành chăn nuôi còn đóng vai trò quan trọng là nguồn cung cấp thực phẩm thiết yếu cho con người. Chăn nuôi vẫn luôn là ngành kinh tế chủ lực và truyền thống của Việt Nam hiện nay, nhất là ngành chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân. Hiện nay, ở Việt Nam thịt lợn luôn chiếm thị phần hàng đầu trong tổng số khối lượng thịt bán trên thị trường. Vì vậy, chăn nuôi lợn ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm, ưu tiên phát triển để theo kịp với nhịp độ chung của đất nước.
Chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn tham gia xuất khẩu (Theo Nguyễn Văn Tốn, 2020 28). Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn đang chuyển dần từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó góp phần cho ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Chăn nuôi lợn nái sinh sản đang dần trở thành một trong những khâu quan trọng trong chăn nuôi lợn hiện đại nhằm cung cấp con giống cho giai đoạn chăn nuôi lợn thịt thương phẩm sau này. Nhưng một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển chăn nuôi là mật độ nuôi càng cao thì dễ nảy sinh m 2 vấn đề dịch bệnh.
Nguyên nhân gây bệnh là do khả năng thích nghi của lợn nái với khí hậu, điều kiện vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh. đã gây ra một số bệnh làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng con giống cũng như toàn đàn lợn. Tuy nhiên, để có được sản phẩm chất lượng, an toàn việc áp dụng quá trình chọn giống, nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn là hết sức cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Lê Văn Tuấn, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương”.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Theo dõi tình hình chăn nuôi của trang trại. - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản. - Xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại.
Yêu cầu của chuyên đề - Theo dõi tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại. - Thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại. - Thực hiện được quy trình vệ sinh, phòng và trị một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái tại trại. - Chăm chỉ, chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân.
m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên - Vị trí đị lý: Bình Giang là một trong 12 huyện thuộc tỉnh Hải Dương. Huyện Bình Giang có quốc lộ 5, quốc lộ 38 chạy qua, cách thành phố Hải Dương 20 km.
Huyện có tổng dân số là 104. Bình Giang nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Dương, diện tích tự nhiên là 104,8 km2. Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện Thanh Miện, phía Đông giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ân Thi và Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên. Bốn mặt huyện Bình Giang đều có sông: sông Kẻ Sặt ở phía Bắc, sông Đình Hào ở phía Đông, sông Cửu An ở phía Tây, sông Cầu Lâm, Cầu Cốc ở phía Nam.
Trong đó sông Sặt bắt nguồn từ sông Hồng, qua cổng Xuân Quan, qua cầu Lực Điền, cầu của đường 38, nối quốc lộ 5A với thành phố Hưng Yên, tiếp cận với huyện Bình Giang tại vị trí sát làng Tranh Ngoài, xã Thúc Kháng. Đến đây sông có nhánh chạy dọc theo phía Tây huyện, gọi là sông Cửu An; một nhánh chạy dọc phía Bắc huyện gọi là sông Kẻ Sặt, thông với sông Thái Bình, qua Âu Thuyền, thành phố Hải Dương. Xã Bình Xuyên là một xã nằm ở phía Nam của huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, xã có diện tích tự nhiên là 853,78 ha. Toàn xã có 9 thôn với tổng số dân số là 9.865 nhân khẩu, có 2656 hộ gia đình.
- Về kinh tế: Bình Giang là một huyện chủ yếu là nông nghiệp, đang phát triển mạnh dịch vụ, thương mại và công nghiệp. Năm 2020, tổng giá trị sản xuất một số ngành chủ yếu ước đạt trên m 4 7. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 15,3%, giá trị xây dựng tăng 13,5%, giá trị thương mại - dịch vụ tăng 12,4% so với năm ngoái. Tổng thu ngân sách nhà nước huyện đạt hơn 653,8 tỷ đồng, tăng 53,5%.
Thu nhập bình quân đầu người đạt 48,15 triệu đồng, tăng 4,7 triệu đồng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,27%. Quá trình thành lập trang trại Trang trại lợn nái sinh sản Lê Văn Tuấn nằm trên địa bàn của thôn Dinh Như, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Trại được thành lập năm 2007, có diện tích đất sử dụng là 4ha.
Trang trại là trại lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Lê Văn Tuấn làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại. Cơ cấu tổ chức trang trại Cơ cấu tổ chức trang trại: gồm 3 nhóm + Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại.
+ Nhóm cán bộ kỹ thuật: 01 kỹ sư, 2 kỹ thuật điện nước, hàn xì. + Nhóm nhân viên: 11 công nhân, 3 sinh viên thực tập. Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại nằm trên khu vực xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đường giao thông đã được nâng cấp bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Trại lợn cách khu dân cư khoảng hơn 1km.
Trại có diện tích đất rộng trong đó có: - Đất xây dựng khu chăn nuôi. - Đất trồng cây ăn quả. m 5 - Ao, hồ chứa nước và nuôi cá. - Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải.
- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao quanh và có cổng vào. Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn. Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 600 nái bao gồm: 3 chuồng đẻ (chuồng 1 có 60 ô, chuồng 2 và chuồng 3 mỗi chuồng có 56 ô), 1 chuồng bầu (chuồng có 560 ô), 1 chuồng cách ly cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc.
Trại gồm 4 khu chính: Khu nhà ăn, ở cho công nhân; khu nhà để cám và kho thuốc; khu để dụng cụ chăn nuôi; khu chăn nuôi còn lại là vườn và ao hồ bao quanh trại. Trại có quy mô đàn là trên 600 đầu nái, 14 lợn đực và 75 lợn hậu bị để thay thế đàn và được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng nối liền nhau. Khu chuồng bầu là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai, khu chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng bầu chuyển xuống là nơi mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ, khu vực cách ly là khu vực chuồng dành cho lợn hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải. Khu chuồng bầu gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng bầu nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống.
Một góc chuồng bầu là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh; cạnh khu lấy tinh là phòng tinh. Phòng m 6 tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế, máy cất nước… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện. Đầu chuồng bầu có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất. Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3.
Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió chia đều cho hai ngăn, trong chuồng có nhiệt kế đo nhiệt độ chuồng. Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy và có một công nhân phụ trách. Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông, sàn chuồng dành cho lợn con được lắp đặt bằng sàn nhựa cứng. Mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con.