Luận văn thực hiện chính sáchmôi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thực hiện chính sáchmôi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chính sách môi trường xây dựng nông thôn mới Thoại Sơn

Luận văn về thực hiện chính sách môi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang là một nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lồng ghép các mục tiêu bảo vệ môi trường vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Bối cảnh chung cho thấy khu vực nông thôn Việt Nam, nơi sinh sống của phần lớn dân số, đối mặt với nhiều thách thức về môi trường do phương thức canh tác truyền thống và áp lực phát triển. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) ra đời như một giải pháp toàn diện, trong đó tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM (Tiêu chí số 17) đóng vai trò cốt lõi. Tiêu chí này không chỉ hướng đến cải thiện cảnh quan mà còn nhằm đảm bảo phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sống cho người dân. Tại huyện Thoại Sơn, huyện NTM đầu tiên của An Giang, việc thực thi chính sách này mang ý nghĩa tiên phong, cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

1.1. Luận giải sự cấp thiết của chính sách môi trường nông thôn

Sự cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tế ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng, trở thành vấn đề xã hội bức xúc. Các nguyên nhân chính bao gồm ý thức cộng đồng còn hạn chế, tập quán sản xuất lạc hậu, và việc lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh hoạt và sản xuất, ô nhiễm không khí từ làng nghề và thói quen đốt rác, cùng với vấn đề xử lý chất thải rắn chưa triệt để, đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải có một hệ thống chính sách pháp luật về môi trường hiệu quả. Việc nghiên cứu thực tiễn tại huyện Thoại Sơn, một địa phương đã đạt chuẩn NTM, cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách, đảm bảo các mục tiêu môi trường không chỉ đạt được mà còn mang tính bền vững.

1.2. Vai trò của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được xem là một cuộc cách mạng toàn diện, nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn trên cả ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Chương trình này tạo ra một khung pháp lý và nguồn lực để các địa phương triển khai các hoạt động cải thiện hạ tầng, phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường (BVMT). Tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm được xem là một trong những tiêu chí khó và đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị lẫn cộng đồng. Vai trò của chương trình là định hướng, hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các mục tiêu môi trường, từ việc xây dựng hệ thống thu gom rác thải đến việc thay đổi tập quán canh tác, hướng tới một nền nông nghiệp xanh và sạch.

II. Phân tích thách thức thực hiện chính sách môi trường ở Thoại Sơn

Quá trình thực hiện chính sách môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn không tránh khỏi những khó khăn và thách thức đáng kể. Mặc dù là huyện đi đầu của tỉnh An Giang, Thoại Sơn vẫn đối mặt với các vấn đề cố hữu của vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long. Các thách thức này không chỉ đến từ yếu tố kỹ thuật hay tài chính, mà còn bắt nguồn sâu xa từ nhận thức và thói quen của người dân. Việc giải quyết triệt để các vấn đề như ô nhiễm môi trường nông thôn đòi hỏi một chiến lược dài hạn, kết hợp giữa biện pháp hành chính, đầu tư công nghệ và công tác tuyên truyền, vận động. Việc xác định rõ những rào cản này là bước đi quan trọng để tìm ra giải pháp phù hợp, giúp huyện duy trì và nâng cao các tiêu chí môi trường đã đạt được, hướng tới mục tiêu NTM nâng cao.

2.1. Thực trạng môi trường nông thôn và các nguồn gây ô nhiễm

Thực trạng môi trường nông thôn tại Thoại Sơn trước và trong giai đoạn đầu xây dựng NTM phản ánh nhiều vấn đề nổi cộm. Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học), chăn nuôi nhỏ lẻ không có hệ thống xử lý chất thải, nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý và rác thải rắn sinh hoạt. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt tại các kênh rạch là một vấn đề đáng báo động. Bên cạnh đó, việc xử lý chất thải rắn còn nhiều bất cập, tỷ lệ thu gom chưa cao và phương pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm đất và nước ngầm. Những vấn đề này tạo ra áp lực lớn lên hệ thống quản lý nhà nước về môi trường tại địa phương.

2.2. Khó khăn trong việc đáp ứng bộ tiêu chí môi trường NTM mới

Việc đáp ứng bộ tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM, đặc biệt là bộ tiêu chí giai đoạn 2016-2020 với các yêu cầu cao hơn, là một thách thức lớn. Các chỉ tiêu như tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch, tỷ lệ chất thải được thu gom và xử lý đúng quy định, hay việc 100% cơ sở sản xuất kinh doanh phải đạt chuẩn môi trường đòi hỏi nguồn lực đầu tư hạ tầng rất lớn. Khó khăn không chỉ nằm ở vốn đầu tư mà còn ở việc duy trì hoạt động hiệu quả của các công trình sau khi xây dựng. Hơn nữa, việc thay đổi nhận thức và hành vi của người dân là một quá trình lâu dài, không thể đạt được trong thời gian ngắn, gây khó khăn cho việc duy trì tính bền vững của các tiêu chí.

III. Phương pháp quản lý nhà nước về môi trường hiệu quả tại Thoại Sơn

Để vượt qua các thách thức, huyện Thoại Sơn đã áp dụng nhiều phương pháp quản lý đồng bộ và quyết liệt. Công tác quản lý nhà nước về môi trường được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. UBND huyện Thoại Sơn đã chủ động xây dựng các kế hoạch, đề án cụ thể, bám sát chỉ đạo của tỉnh và Trung ương. Sự thành công trong thực hiện chính sách môi trường tại đây đến từ sự kết hợp hài hòa giữa việc ban hành các văn bản chỉ đạo, phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng ban ngành và việc tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên. Cách tiếp cận này giúp chính sách không chỉ nằm trên giấy mà thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra những thay đổi tích cực và có thể đo lường được trong công tác bảo vệ môi trường (BVMT).

3.1. Vai trò chỉ đạo của UBND huyện Thoại Sơn và các cơ quan

UBND huyện Thoại Sơn đóng vai trò hạt nhân trong việc chỉ đạo và điều phối toàn bộ quá trình. Ban Chỉ đạo Chương trình NTM của huyện được thành lập, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên và đơn vị phụ trách. Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan thường trực, tham mưu các giải pháp chuyên môn, trong khi các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đảm nhận công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Sự phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang giúp địa phương kịp thời cập nhật các hướng dẫn, quy định mới và tranh thủ được các nguồn lực hỗ trợ từ cấp trên, tạo thành một hệ thống quản lý thống nhất và hiệu quả.

3.2. Quy trình triển khai và giám sát thực hiện chính sách

Quy trình thực hiện chính sách được xây dựng bài bản, từ khâu lập kế hoạch, phổ biến, triển khai đến kiểm tra và tổng kết. Huyện đã xây dựng lộ trình cụ thể cho từng xã, xác định các tiêu chí ưu tiên cần thực hiện trước. Công tác đánh giá tác động môi trường đối với các dự án mới được siết chặt. Hoạt động giám sát được thực hiện thường xuyên thông qua các buổi làm việc định kỳ của Ban Chỉ đạo, các đợt kiểm tra đột xuất và đặc biệt là thông qua kênh giám sát của cộng đồng. Người dân được khuyến khích phản ánh các vấn đề môi trường phát sinh tại địa phương, qua đó giúp chính quyền kịp thời nắm bắt và xử lý các vi phạm, đảm bảo chính sách được thực thi nghiêm túc.

IV. Bí quyết nâng cao nhận thức và huy động vai trò của cộng đồng

Một trong những yếu tố quyết định thành công của chính sách môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại Thoại Sơn là việc huy động được sức mạnh tổng hợp từ cộng đồng. Nhận thức được rằng bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, huyện đã triển khai nhiều giải pháp sáng tạo để thay đổi tư duy và hành động của người dân. Thay vì chỉ áp đặt bằng các quy định hành chính, chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao nhận thức người dân thông qua các mô hình thực tiễn, các phong trào thi đua và phát huy vai trò của cộng đồng trong việc tự quản, giám sát. Cách làm này không chỉ giải quyết các vấn đề môi trường trước mắt mà còn xây dựng một nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển bền vững lâu dài.

4.1. Các giải pháp nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ môi trường

Công tác tuyên truyền được thực hiện đa dạng và sâu rộng. Huyện đã tổ chức các lễ ra quân, phát động phong trào thi đua “Thoại Sơn chung sức xây dựng nông thôn mới”. Các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ với mô hình “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, Đoàn Thanh niên với các hoạt động “Ngày Chủ nhật xanh” đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ. Đài truyền thanh huyện thường xuyên có các chuyên mục về BVMT. Ngoài ra, việc phát hành hàng chục ngàn tờ rơi, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về xây dựng NTM đã giúp người dân hiểu rõ hơn về trách nhiệm của mình, từ đó tự giác tham gia vào các hoạt động như phân loại rác tại nguồn, giữ gìn vệ sinh chung, trồng cây xanh tạo cảnh quan.

4.2. Phát huy vai trò của cộng đồng trong giám sát và thực thi

Vai trò của cộng đồng được thể hiện rõ nét qua các mô hình tự quản về môi trường. Các “Ấp tự quản bảo vệ môi trường” hay “Tổ thu gom rác thải” do người dân tự thành lập và vận hành đã chứng minh hiệu quả. Cộng đồng dân cư không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình giám sát. Nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được áp dụng triệt để. Việc công khai, minh bạch các kế hoạch, dự án liên quan đến môi trường đã tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền giám sát, góp phần ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm và đảm bảo các công trình BVMT được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.

V. Đánh giá tác động chính sách môi trường đến phát triển bền vững

Kết quả thực hiện chính sách môi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn đã mang lại những tác động tích cực và sâu sắc, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững của địa phương. Việc hoàn thành và duy trì Tiêu chí số 17 không chỉ cải thiện rõ rệt chất lượng môi trường sống mà còn tạo ra những tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Diện mạo nông thôn đã thay đổi theo hướng xanh, sạch, đẹp hơn; sức khỏe người dân được bảo vệ tốt hơn. Những thành tựu này khẳng định tính đúng đắn của chủ trương lồng ghép mục tiêu môi trường vào chương trình phát triển tổng thể, đồng thời cung cấp những bài học kinh nghiệm thực tiễn quý giá cho tỉnh An Giang và cả nước.

5.1. Phân tích kết quả đạt được theo bộ tiêu chí môi trường

Đến cuối giai đoạn, 100% số xã của huyện Thoại Sơn đã đạt chuẩn tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM. Các chỉ tiêu cụ thể đều có sự cải thiện vượt bậc: tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch đạt và vượt quy định; hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn được đầu tư đồng bộ; các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về BVMT. Các mô hình cảnh quan xanh, sạch, đẹp được nhân rộng. Kết quả này là minh chứng cho sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng, hưởng ứng của nhân dân, biến những mục tiêu chính sách thành hiện thực sinh động.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai tại Thoại Sơn

Thực tiễn tại Thoại Sơn đã rút ra nhiều bài học quan trọng. Thứ nhất, phải có sự quyết tâm chính trị cao và vai trò gương mẫu của người đứng đầu. Thứ hai, công tác tuyên truyền, vận động phải đi trước một bước, thực hiện kiên trì, liên tục để thay đổi nhận thức. Thứ ba, cần vận dụng linh hoạt các nguồn lực, phát huy tối đa nội lực từ cộng đồng theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Cuối cùng, công tác kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên để kịp thời tháo gỡ khó khăn và chấn chỉnh sai sót. Những bài học này là nền tảng để huyện tiếp tục thực hiện các mục tiêu trong giai đoạn mới.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sáchmôi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Chương trình xây dựng nông thôn mới 1. Nông thôn và nông thôn mới Quan niệm về nông thôn Qua tổng quan tài liệu cho thấy: Tùy thuộc vào từng tiêu chí, cách nhìn nhận ở các quốc gia hay cách tiếp cận nghiên cứu sẽ có những khái niệm khác nhau về “Nông thôn”; nhưng thông thường được so sánh với thành thị. Điển hình, như: Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có thể định nghĩa nông thôn theo hai phương thức: (i) Thành thị được xác định bởi luật, là tất cả các trung tâm của tỉnh, huyện; các vùng còn lại được xác định là nông thôn; (ii) Căn cứ vào mức độ tập trung dân cư sinh sống thành cụm từ đó quan sát xác định vùng thành thị.

Đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta sử dụng phương thức thứ nhất để phân biệt khu vực thành thị và nông thôn. Theo Từ điển Tiếng Việt, nông thôn là “Khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị”. Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó nông dân chiếm ưu thế với sản xuất nông nghiệp có tỷ trọng cao. Công tác quản lý giữa nông thôn và thành thị có sự khác biệt; đối với nông thôn, xã, thôn, bản là cấp quản lý; còn thành thị với cấp quản lý là phường, thị trấn [31].

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nông thôn là vùng lãnh thổ của một nước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp” [15]. Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cụ thể: “Nông thôn là vùng lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”. Khái niệm này, được đề tài sử dụng trong quá trình nghiên cứu các nội dung có liên quan; gồm các đặc trưng về cấp quản lý hành chính là UBND xã; nơi phân bố cư trú của 10 dân cư về mặt không gian là các điểm quần cư nông thôn với phương thức sản xuất có quan hệ trực tiếp với nguồn vốn tự nhiên, nhất là đất đai – tư liệu sản xuất chủ yếu gắn với các hoạt động lao động nông nghiệp chiếm ưu thế. Quan niệm về nông thôn mới Nông thôn mới trước tiên là nông thôn, không phải thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay.

Có thể khái quát theo 7 nội dung cơ bản sau: nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phù hợp; cơ cấukinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng an ninh, trật tự được giữvững[7]. Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đời sống văn hóa phong phú, mức sống dân cư được cải thiện thông qua đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường các giá trị phát triển công nghiệp, dịch vụ theo quy hoạch, đảm bảo tính phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; nhưng vẫn giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày05/8/2008 đã nhấn mạnh: Nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch. Trên cơ sở các quan niệm về nông thôn mới, đề tài sử dụng quan niệm được quy định tại Nghị quyết số 26-NQ/TW; theo đó, nông thôn mới là nông thôn được đầu tư đồng bộ các nguồn lực để phát huy được năng lực nội tại theo các định hướng quy hoạch, đảm bảo sự hài hòa giữa các mục tiêu phát triển bền vững; đồng thời, từng bước nâng cao chất lượng sống của dân cư, rút ngắn khoảng cách với khu vực đô thị.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã xác định nhiệm vụ xây dựng “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới” với mục tiêu chung: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở 11 các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết được xác định là văn kiện chỉ đạo quan trọng, tạo tiền đề để các cấp chính quyền triển khai công tác xây dựng nông thôn mới. Trong năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới”; khẳng định và bổ sung nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình hành động của Chính phủ (Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 và Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 với các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là trên 50% số xã đạt chuẩn NTM. Căn cứ tinh thần chỉ đạo của các văn bản Nghị quyết Trung ương, các Bộ, cấp chính quyền địa phương đã triển khai thực hiện theo các tiêu chí phù hợp, cùng với 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới (Bảng 1.

Tiêu chí huyện nông thôn mới 1. Có 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Có tất cả các tiêu chí sau đạt chuẩn theo quy định: TT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí Chỉ tiêu Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện được phê 1 Quy hoạch Đạt duyệt 2. Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đảm bảo kết Đạt 2 Giao thông nối tới các xã 2.

Tỷ lệ km đường huyện đạt chuẩn theo quy hoạch 100% Hệ thống thủy lợi liên xã đồng bộ với hệ thống thủy lợi 3 Thủy lợi Đạt các xã theo quy hoạch Hệ thống điện liên xã đồng bộ với hệ thống điện các xã 4 Điện theo quy hoạch, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của cả hệ Đạt thống 5. Bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng 3; Đạt Trung tâm y tế huyện đạt chuẩn quốc gia Y tế - Văn hóa - 5. Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện đạt chuẩn, 5 Giáo dục có nhiều hoạt động văn hóa - thể thao kết nối với các xã Đạt có hiệu quả 5. Tỷ lệ trường Trung học phổ thông đạt chuẩn ≥ 60% Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; hoặc có mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, tổ 6 Sản xuất Đạt chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của huyện.

Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn Đạt huyện đạt tiêu chuẩn 7 Môi trường 7. Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực 100% hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường An ninh, trật tự xã 8 Đảm bảo an toàn an ninh, trật tự xã hội Đạt hội 9. Ban Chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện được kiện toàn tổ chức Đạt Chỉ đạo xây dựng 9 và hoạt động đúng quy định nông thôn mới 9.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ