Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG THÂN THIỆN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích của thủ tục tố tụng thân thiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm thủ tục tố tụng thân thiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Người dưới 18 tuổi phạm tội Trước đây trong hệ thống pháp luật Việt Nam và khoa học pháp lý, khái niệm người chưa thành niên (NCTN) được sử dụng nhiều hơn.
Đến thời điểm Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 được ban hành, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội được đưa ra để thay thế khái niệm người chưa thành niên. Thuật ngữ này được nhận thức khác nhau, tùy theo góc độ, lĩnh vực. Theo nhà tâm lý học G.Stanley Hall, thời kỳ chưa thành niên là thời kỳ quá độ tuổi trẻ em chuyển lên người lớn và là thời kỳ gắn liền với những xung đột, xáo trộn tâm trạng, nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành [13]. Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc (LHQ) về áp dụng pháp luật với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) không đưa ra khái niệm về NCTN mà chỉ đưa ra thuật ngữ “người ít tuổi”.
Theo Quy tắc số 2.1 mục a của Quy tắc Bắc Kinh thì “Người chưa thành niên là người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo phương thức khác với xét xử người lớn” [21]. Quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 14/12/1990, có ghi nhận tại Quy tắc số 11 mục a rằng, NCTN là người dưới 18 tuổi, giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của NCTN. Ở Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt, NCTN được hiểu như sau: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dân” [53, tr. Định nghĩa này đã chỉ rõ, NCTN là người chưa hoàn thiện cả về thể lực, trí lực lẫn tinh thần.
Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét khái niệm NCTN theo Từ điển tiếng Việt thì rất khó xác định phạm vi đối tượng cụ thể trong cơ cấu dân số là NCTN. Theo đó, yếu tố để xác định đối tượng là NCTN hoàn toàn phụ thuộc vào dấu hiệu sự phát triển về 6 tâm sinh lý, nhận thức. Dấu hiệu này được xác định bởi yếu tố định tính, còn yếu tố định lượng (có thể coi độ tuổi là yếu tố định lượng) chưa được xác định. Nếu tiếp cận khái niệm NCTN trên phương diện pháp lý, pháp luật Việt Nam hiện hành, độ tuổi của NCTN đã được thống nhất trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Như vậy về độ tuổi, NCTN là người chưa đủ 18 tuổi. Có thể nhận thấy một số điểm khác biệt của người dưới 18 tuổi so với người thành niên: (i) NCTN là người chưa phát triển đẩy đủ về thể chất. Điểm khác biệt này là do nhân tố sinh học; (ii) người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về trí tuệ và tâm lý, sinh lý. Quá trình sinh học, trí tuệ của nhóm đối tượng này phát triển song song với sự phát triển về thể chất.
Người dưới 18 tuổi chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Độ tuổi của người dưới 18 tuổi là ranh giới để phân biệt họ với người thành niên. Theo đó người chưa đủ 18 tuổi là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Suy ra, người chưa thành niên hay người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đủ 18 tuổi trở lên (đã thành niên).
Điều 40 (1) Công ước quyền trẻ em đề cập đến người chưa thành niên phạm tội là trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Điều 37 còn đề cập đến khái niệm trẻ em bị tước tự do. Khái niệm này có thể được hiểu (tương đương với) là NCTN phạm tội bị tước tự do. Ngoài các khái niệm trên, một thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng bởi một số cơ quan nhân quyền LHQ và tổ chức quốc tế khác, đó là trẻ em làm trái pháp luật, NCTN vi phạm pháp luật.
Theo UNICEF, NCTN làm trái với pháp luật là những người dưới 18 tuổi phải làm việc với hệ thống tư pháp do bị nghi ngờ hay bị cáo buộc là phạm tội. Cũng có quan điểm cho rằng, NCTN vi phạm pháp luật hay làm trái pháp luật được hiểu là “những người dưới 18 tuổi đã thực hiện, hoặc bị tố cáo là đã thực hiện một hành vi vi phạm pháp luật (hành chính hoặc hình sự)” [63]. Như vậy, khái niệm NCTN vi phạm pháp luật có nội hàm rộng hơn khái niệm NCTN phạm tội, do vi phạm pháp luật không có nghĩa chỉ bao gồm pháp luật hình sự, và không có nghĩa trong mọi trường hợp sẽ 7 dẫn đến hậu quả là NCTN bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xác định là phạm tội như với trường hợp NCTN phạm tội. Trong luật hình sự và tố tụng hình sự ở Việt Nam, NCTN phạm tội là thuật ngữ được sử dụng nhiều.
Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 có một chương riêng (chương X): Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 cũng đề cập đến khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong nhiều quy định của Chương XXXII (Thủ tục tố tụng với người chưa thành niên). BLTTHS năm 2015 tiếp nối những quy định về NCTN trước đây, nhưng thay đổi bằng việc quy định về khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội. Thực chất khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội không thay đổi về nội hàm so với quy định về NCTN phạm tội so với trước kia.
Tuy nhiên, việc xác định luôn giới hạn độ tuổi trong khái niệm này góp phần dễ dàng hơn cho việc áp dụng cũng như không cần các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, người phạm tội là “người có đủ dấu hiệu của chủ thể của tội phạm đã thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm” [52, tr. Người phạm tội có thể đã hoặc chưa thành niên - trong đó NCTN phạm tội là một bộ phận đặc biệt của người phạm tội nói chung, ranh giới ngăn cách NCTN phạm tội và người thành niên phạm tội là 18 tuổi tròn [67, tr. Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị coi là tội phạm, họ được xem là những người đã thành niên phạm tội, còn người chưa đủ 18 tuổi mà thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm thì sẽ được xem là NCTN phạm tội.
Theo Điều 12 BLHS 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Luật hình sự quy định cụ thể, một người nếu chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc một người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm theo quy định của BLHS. Tuy nhiên, có một số vấn đề lý luận cần làm rõ khi đề cập tới khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội thường được dùng cả trong tố tụng hình sự (TTHS).
Tuy nhiên, về mặt lý luận, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội không đồng nhất với khái niệm người dưới 18 tuổi bị buộc tội do: thứ nhất, có trường hợp phạm tội khi dưới 18 tuổi nhưng khi khởi tố vụ án, 8 khởi động tiến trình tố tụng, họ đã trên 18 tuổi; thứ hai, phạm tội là từ chỉ trạng thái bị coi là có tội sau khi bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, còn trước khi bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, họ vẫn chưa bị coi là có tội mà chỉ coi là người bị buộc tội. Nhưng trong thực tiễn tư pháp hình sự, cũng như trong các văn bản pháp luật TTHS, khái niệm người phạm tội cũng thường được sử dụng để chỉ đối tượng người bị buộc tội và trở thành một tập quán ngôn ngữ pháp lý. Vì thế, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội cũng được sử dụng trong TTHS với hàm ý chỉ người dưới 18 tuổi bị buộc tội. Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Thủ tục tố tụng là cách thức, trình tự, là nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ lý hoặc khởi tố theo các qui định của pháp luật [65, tr.
Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa rộng, thủ tục tố tụng không chỉ là cách thức, trình tự, là nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án mà là một hệ thống các yếu tố liên quan để triển khai, vận hành các cách thức, trình tự, nghi thức đó. Các yếu tố này liên quan như các thiết chế (cơ quan tiến hành tố tụng với con người, cơ sở vật chất…), người tham gia tố tụng, các nguyên tắc, chính sách và quy định (thể chế) để xác định tổng thể căn cứ, thẩm quyền, đối tượng, cách thức, trình tự thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc giải quyết các vụ án hình sự được quy định áp dụng cho thủ tục TTHS. Tuỳ theo quan niệm và tiêu chí phân đoạn mà thủ tục TTHS được chia thành các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thi hành án, giám đốc thẩm và tái thẩm hay khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hay khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử… Bên cạnh những thủ tục TTHS được thiết kế nhằm giải quyết chung đối với các vụ án hình sự thông thường, còn có những thủ tục TTHS đặc biệt chỉ áp dụng cho một số đối tượng đặc biệt.
Ví dụ: thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, thủ tục rút gọn, thủ tục khiếu nại, tố cáo trong TTHS. Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi cũng là một trong những loại thủ tục đặc biệt của TTHS, hoặc tại một số quốc gia trên thế giới, được quy định theo một luật riêng về tư pháp người dưới 18 tuổi.