Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút và tuyển chọn nhân lực chất lượng cao. - Chương 2: Thực trạng công tác thu hút và tuyển chọn nhân lực chất lượng cao của công ty BSC giai đoạn 2012 – 2014. - Chương 3: Phương hướng hoạt động kinh doanh và giải pháp hoàn thiện công tác thu hút và tuyển chọn nhân lực chất lượng cao tại công ty BSC giai đoạn 2015 – 2020. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VÀ TUYỂN CHỌN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO 1.
Khái niệm và vai trò của nhân lực chất lƣợng cao 1. Khái niệm Khái niệm về nhân lực: Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân viết trong giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức xuất bản năm 2009 – NXB Giáo dục Việt Nam (Tr6) thì nhân lực được hiều là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình sản xuất. Theo Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực xuất bản 2012 – chủ biên PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân thì Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động.
Ở một cách tiếp cận khác, từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa: Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Như vậy có thể thấy, có rất nhiều cách định nghĩa về nhân lực khác nhau, tuy nhiên tựu chung lại, các tác giả đều nhận định bản chất của nhân lực là phản ánh đến khả năng của con người trong lao động sản xuất. Khả năng của con người có thể được chia tách ra thành các yếu tố như sau: - Trí lực: Là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất 8 nhiên phải thông qua đầu óc của họ.
Trí lực gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. - Thể lực: Là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Mặc dù trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, tuy nhiên sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. - Tâm lực: Thể hiện tác phong, tinh thần, ý thức trong lao động như tác phong công nghiệp khẩn trương, đúng giờ, có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý.
Nhân lực chất lượng cao: Thuật ngữ nhân lực chất lượng cao đã được các nhà kinh tế học trên thế giới đề cập đến khá lâu, theo đó có ba loại nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là: công nhân chất lượng cao, chuyên gia lành nghề và những người có ý tưởng sáng tạo. Tuy nhiên, ở Việt Nam cụm từ “Nhân lực chất lượng cao” mới được chúng ta đề cập nhiều kể từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và chính thức được nhắc đến trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam để khẳng định vai trò của một bộ phận nhân lực đóng vai trò là đầu tàu trong quá trình phát triển của đất nước. Tô Ngọc Hưng viết trong “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020” nhân lực chất lượng cao được hiểu là: “Bao gồm những lao động qua đào tạo, được cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo và có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc tương ứng với trình độ được đào tạo; từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung”. 9 Ở một cách tiếp cận khác nhân lực chất lượng cao được hiểu là nhân lực có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng đó được đào tạo vào trong quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; có phẩm chất đạo đức tiêu biểu.
Như vậy, để làm rõ hơn nhân lực chất lượng cao, cũng như để dễ dàng hơn trong việc thống kê, phân tích và đánh giá lực lượng lao động này, cần thiết phải xây dựng những tiêu chí xác định nhân lực chất lượng cao ở mức độ cụ thể hơn. Xét trên phương diện tổng thể, các tiêu chí xác định nhân lực chất lượng cao có thể bao gồm: - Thứ nhất, nhân lực chất lượng cao phải là lao động có khả năng thích ứng công nghệ mới và linh hoạt cao trong công việc chuyên môn. Tiêu chí này đòi hỏi người lao động phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, để có khả năng thích ứng tốt với những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay. - Thứ hai, nhân lực chất lượng cao phải là lao động có đạo đức nghề nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm với công việc.
- Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng sáng tạo trong công việc. Vai trò của nhân lực chất lượng cao trong tổ chức Một là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó trong các tổ chức. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao với tính năng động, sáng tạo ngày càng trở nên quan trọng và trở thành nhân tố chiến lược cho phát triển bền vững và tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. 10 Hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố chủ đạo tạo ra sự thúc đẩy tổ chức phát triển: Việc sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao chính là sự đảm bảo cho khả năng sáng tạo và tư duy phát triển không giới hạn, đây chính là nhân tố giúp phát huy hiệu quả của các nguồn lực khác để gia tăng giá trị trong sản xuất kinh doanh.
Chính vì vậy có thể nói nhân lực chất lượng cao sẽ tạo ra sự khác biệt và là yếu tố thúc đẩy tổ chức đi lên. Thu hút và tuyển chọn nhân lực Thu hút và tuyển chọn nhân lực (hay tuyển dụng) là một quá trình tương tác giữa tổ chức và thị trường lao động. Trong những điều kiện thuận lợi, với những chính sách tương tác phù hợp sẽ giúp tổ chức tìm kiếm được nguồn nhân lực tốt nhất và phù hợp nhất, tuy nhiên trong trường hợp ngược lại đây sẽ là bài toán nan giải và gây lãnh phí nhiều nhất cho tổ chức. Hoạt động tuyển dụng có thể được mô tả tóm tắt theo lưu đồ sau: Tổ chức nhu cầu nhân lực Cung về nhân lực trên thị cần tuyển dụng trường lao động Phân tích công việc: Đặc điểm ứng cử viên: Phân tích vị trí, xác định Các yếu tố sẵn có của các yêu cầu của người đảm những người dự tuyển về nhận vị trí về kiến thức, kỹ kiến thức, kỹ năng và thái năng và thái độ độ So sánh đánh giá giữa nhu Chiêu mộ cầu tổ chức và ứng viên dự Ứng tuyển tuyển (tuyển chọn) Tuyển dụng Sơ đồ 1.
Lƣu đồ tóm tắt hoạt động tuyển dụng của các Tổ chức 11 Ở phần tiếp theo tác giả sẽ đi vào phân tích từng nội dung để làm rõ bản chất của hoạt động thu hút và tuyển chọn nhân lực. Thu hút nhân lực Khái niệm Thu hút được dùng như một động từ có nghĩa là: Làm cho tụ tập đến (Từ điển tiếng việt của tác giả Bùi Đức Tịnh). Còn trong Quản trị nhân lực, thu hút được sử dụng với 2 nghĩa: - Nghĩa rộng: Thu hút hình thành nguồn nhân lực, đây là một trong ba chức năng của Quản trị nhân lực. Thu hút nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động nhằm đảm bảo cho tổ chức có đủ nhân viên về mặt số lượng cũng như chất lượng.
Muốn vậy tổ chức phải tiến hành kế hoạch hóa nguồn nhân lực, phân tích, thiết kế công việc, tuyển mộ - tuyển chọn, bố trí nhân lực. - Nghĩa hẹp: Thu hút là một quá trình tập hợp những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động bên ngoài và lực lượng lao động bên trong tổ chức nhằm bảo đảm sự thiếu hụt những chức danh nào đó trong tổ chức (tương đương với ý nghĩa của chức năng tuyển mộ nhân lực được đề cập đến trong giáo trình Quản trị nhân lực trang 93 của NXB ĐH KTQD năm 2007). Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ thu hút theo nghĩa hẹp để làm cơ sở lý luận. Nói cách khác, trong giới hạn bài viết, việc tác giả sử dụng thuật ngữ thu hút hay tuyển mộ sẽ được hiểu rằng có ý nghĩa tương đương nhau.
Nguồn và phương pháp thu hút nhân lực: Thông thường, khi phát sinh nhu cầu tuyển dụng (có thể nhu cầu tuyển thay thế hoặc tuyển bổ sung theo định biên nhân sự hàng năm), các tổ chức sẽ tuyển mộ ứng viên từ hai nguồn là nguồn bên trong tổ chức (những người lao động đang làm việc cho tổ chức ở những vị trí khác) và nguồn bên ngoài tổ chức (từ thị trường lao động).