Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THANH TRA TỈNH TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Khái quát về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1. Khái quát về tham nhũng 1. Khái niệm Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với s ự ra đ ời của Nhà nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển c ủa Nhà n ước.
Nhiều quốc gia trên thế giới coi tham nhũng là “qu ốc n ạn” c ần ph ải ch ủ động phòng ngừa và kiên quyết trừng trị bằng nhiều biện pháp manh mẽ. Vì vậy, đấu tranh chống tham nhũng là một trong những nhi ệm v ụ tr ọng tâm của các nước trên thế giới. Xuất phát từ những điều ki ện, đ ặc thù riêng của mỗi quốc gia mà quan niệm về tham nhũng có khác nhau. T ừ điển bách khoa của Đức nêu khái niệm: “Tham nhũng là hi ện tượng m ất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy ra đối v ới công ch ức có quy ền hành”; Từ điển bách khoa của Thụy Sỹ cho rằng: “Tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lóp có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước, đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân”, Đại từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2008, đồng chủ biên: Nguyễn Như Ý - Nguyễn Văn Khang – Vũ Quang Hào – Phan Xuân Thành thì “tham nhũng là lợi dụng quyền hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân” [13, tr.1458]; Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) quan niệm tham nhũng là “sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”… Mặc dù giữa các nước có sự khác nhau về truyền th ống lịch s ử, đ ặc điểm văn hóa, điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình tham nhũng.
nh ưng 7 quan niệm phổ biến nhất hiện nay coi tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, nh ận hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi. Theo đó, tham nhũng gồm ba yếu tố chính: một là, chủ thể tham nhũng là người có ch ức v ụ, quyền hạn; hai là, hành vi tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền h ạn đ ể thực hiện hoặc không thực hiện việc gì đó thuộc phạm vi trách nhiệm của mình; ba là, mục đích thu lợi cho bản thân hoặc cho người có liên quan đến bản thân mình. Hành vi tham nhũng thường được biểu hiện bằng việc các công chức nhà nước cố ý làm trái các quy định pháp luật trong chấp hành chức trách, công vụ được giao hoặc không thực hiện chức trách, công v ụ đ ược giao. Tham nhũng được pháp luật các nước quy định là lo ại t ội ph ạm hình s ự với nhiều tội danh khác nhau.
Một số nước phát triển còn m ở rộng khái niệm tham nhũng đến cả khu vực tư, như: nhân viên của doanh nghiệp tư nhân lấy tiền hoa hồng của đối tác, doanh nghiệp tư nhân vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ kiểm toán, kế toán, thu chi tài chính để vụ lợi cho doanh nghiệp. Trong khi đó, Luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam quy định “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [19]. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị, nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đ ơn v ị có s ử d ụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước. Theo đó, tham nhũng có dấu hiệu cơ bản sau: Phải là người có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống các c ơ quan nhà nước hoặc các tổ chức chính trị - xã hội; lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn đã được trao hoặc ủy quyền; và đặc biệt với mục đích vụ lợi.
Đây là những dấu hiệu cơ bản để phân biệt với các hành vi cố ý làm trái gây h ậu qu ả thiệt hại tài sản nhà nước. Với đặc điểm này thì định nghĩa về tham nhũng 8 ở Việt Nam tuy vẫn bao hàm được các dấu hiệu cơ bản nhưng có th ể h ẹp hơn so với các nước khác [24]. Theo đó, Luật PCTN quy định có 12 hành vi tham nhũng gồm: 1. Tham ô tài sản 2.
Nhận hối lộ 3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm v ụ, công vụ vì vụ lợi 5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi 6.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác đ ể trục lợi 7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi 8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đ ơn vị ho ặc đ ịa phương vì vụ lợi 9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài s ản c ủa Nhà nước vì vụ lợi 10.
Nhũng nhiễu vì vụ lợi 11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi 12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp lu ật vào vi ệc ki ểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi [19]. Tuy vậy, không phải hành vi tham nhũng nào cũng bị coi là tội phạm, bởi mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của mỗi hành vi là khác nhau.
Vì vậy, 9 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS) quy định có các tội sau: 1. Tội tham ô tài sản 2. Tội nhận hối lộ 3. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 4.
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 5. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ 6.Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi 7. Tội giả mạo trong công tác [18]. Như vậy, tham nhũng được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
Đặc điểm Theo định nghĩa trên đây, tham nhũng có những đặc điểm cơ b ản như sau: - Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực công: Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài s ản c ủa Nhà nước. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong c ơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn v ị thu ộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán b ộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó [19]. - Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao Đây là đặc điểm thứ hai của tham nhũng. Chủ thể tham nhũng ph ải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho ng ười khác.
M ột ng ười có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vì động cơ vụ lợi nhưng hành vi đó không lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì không coi là tham nhũng. - Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi 11 Mục đích của hành vi tham nhũng phải là mục đích vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà không xuất phát từ động cơ vụ lợi thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi là lợi ích vật chất (tiền, nhà, đất, các vật có giá trị.) hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn mong muốn đạt được từ việc thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình.
Khái quát về phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm Phòng, chống tham nhũng được hiểu là tổng thể các biện pháp c ủa các cơ quan có thẩm quyền phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh các ch ủ thể được trao quyền lực công lợi dụng quyền lực công đó đ ể th ể hi ện các hành vi tư lợi. Các biện pháp PCTN là cách thức tác động mà c ơ quan có th ẩm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống mầm mống phát sinh tham nhũng, các hành vi c ủa người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác cho mình ho ặc ng ười khác. Đặc điểm Một là, vì tham nhũng là căn bệnh quyền lực, nên PCTN trong c ơ quan nhà nước trước hết là chống tham nhũng trong b ộ máy quy ền l ực.
Tức là, cần có quyết tâm và sự cố gắng, tập trung cao mới có thể PCTN hiệu quả đối với những con người và những khuyết tật của hệ thống cơ quan nhà nước, trong đó gồm cả những người giữ vị trí cao và quan trọng. Hai là, hoạt động PCTN liên quan đến sự ổn định chính tr ị, các v ấn đề về kinh tế, xã hội, chủ thể tham nhũng thường liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành nên các cơ quan chức năng và cơ quan h ữu quan còn g ặp 12 nhiều khó khăn trong PCTN. Đây là tính chất rất quan tr ọng và ph ức t ạp của hoạt động PCTN. Ba là, PCTN nhằm tìm ra những khiếm khuyết trong hoạt động quản lý nhà nước, tìm ra những cán bộ, công chức bị biến chất, tha hóa để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục.
Bốn là, lực lượng chính và trực tiếp tham gia hoạt động PCTN là các cơ quan chuyên trách về công tác này, các cơ quan bảo vệ pháp luật.