Chương 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, số 12/1999/QH10 ngày 12/6/1999, định nghĩa BĐT là: “Báo mạng (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài”. Hiện nay, BĐT cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là loại báo mà người đọc tiếp cận thông tin trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng. khi có kết nối Internet. 13 Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, không thể đồng nhất các trang tin trên mạng máy tính với báo điện tử, bởi vì, BĐT phải là báo chính thức được cấp giấy phép và tin tức được phổ cập mà không có sự chép lại từ tờ báo in.
Mặt khác, có một dạng website cũng đăng tải các tin tức nhưng chưa phải là báo điện tử, đó là trang tin điện tử. Trang tin điện tử không cần phải phép như BĐT nhưng vẫn đăng và lưu truyền tin tức, đa số các tin là lấy lại từ nguồn khác. Trên thực tế hiện nay có ít BĐT nhưng số lượng trang tin điện tử thì rất lớn. Năm 1993, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng Internet.
Ngày 05/3/1997, Chính phủ ban hành Nghị định 21/CP về Quy chế tạm thời quản lý, thiết lập và sử dụng mạng Internet ở Việt Nam. Internet quốc gia Việt Nam chính thức hòa mạng Internet toàn cầu ngày 19/11/1997. Từ đây, báo chí điện tử nước ta và việc khai thác mạng Internet chính thức được đưa vào hoạt động. Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức trên cơ sở sử dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, việc phát triển nhanh Internet để khắc phục sự tụt hậu xa hơn các nước trên thế giới về công nghệ thông tin là yêu cầu rất bức thiết đối với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Ngày 02/02/1997, Tạp chí Quê hương điện tử thuộc Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao ra đời, đánh dấu bước phát triển đầu tiên của BĐT Việt Nam. Quá trình phát triển, BĐT Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt động tuyên truyền nói chung và hoạt động tuyên truyền đối ngoại nói riêng. Cùng với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ truyền dẫn, giúp đẩy nhanh tốc độ truy tải, số lượng các tờ BĐT cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới. BĐT có tác dụng và tiện ích hơn hắn các loại hình báo chí truyền thống, dung lượng thông tin rất lớn, tương tác thông tin nhanh, phát hành không bị trở ngại về không gian, thời gian, biên giới quốc gia.
Báo điện tử có sự tích hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa là không chỉ văn bản, hình ảnh mà còn cả âm thanh, video và các chương trình tương tác khác. Có thể coi BĐT ngày nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text), báo tiếng (audio) và báo hình (video). Không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang, không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên BĐT có khả năng truyền tải thông tin đi khắp toàn cầu với số lượng 14 người đọc không giới hạn. Thông tin từ khi thu thập đến khi phát hành đều được diễn ra rất nhanh chóng, với những thao tác hết sức đơn giản nên BĐT có thể tức thời và phi định kỳ, luôn sống 24/24h.
BĐT chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực tuyến. nhằm tăng mối quan hệ giữa tòa soạn với độc giả, giữa độc giả với nhau, tạo cơ hội cho độc giả có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích. BĐT là một thư viện đúng nghĩa, người đọc không chỉ xem các tin, bài hiện tại, mà còn đọc được những tin, bài trong quá khứ. Ngoài ra, nó còn cung cấp cho người đọc một công cụ tìm kiếm thông tin khoa học và hiệu quả.
Với những ưu thế không thể phủ nhận, BĐT đang trở thành kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn. Như vậy, dựa trên những định nghĩa của một số nhà nghiên cứu cũng như phân tích nhiều quan điểm và các tiêu chí xác định, có thể định nghĩa BĐT như sau: BĐT là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một website và phát hành trên mạng Internet. BĐT là sản phẩm đặc biệt, được sinh ra từ sự kết hợp của các loại hình báo chí truyền thống. BĐT sử dụng yếu tố công nghệ cao như là một quyết tố quyết định.
Quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền mạng Internet toàn cầu. Sự kiện “giàn khoan Hải Dương 981” Giàn khoan dầu Hải Dương 981 có tên tiếng Trung là 海洋石油 981; bính âm: Hǎiyáng Shíyóu 981; tên Hán-Việt là Hải Dương Thạch Du 981; tên viết tắt tiếng Anh là CNOOC 981; báo chí tiếng Việt gọi là giàn khoan Hải Dương 981. Đây là giàn khoan biển sâu di động có kích cỡ lớn đầu tiên do Trung Quốc sản xuất và do Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC: China National Offshore Oil Corporation) sở hữu. Ngày 02/5/2014, Trung Quốc di chuyển giàn khoan Hải Dương 981 tới vị trí cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông.
Đây là vị trí nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. 15 Trung Quốc huy động tới 80 tàu thuyền các loại, trong đó có 7 tàu quân sự như: tàu hộ vệ tên lửa 534, tàu tuần tiễu tên lửa tấn công nhanh 753 và 33 tàu hải cảnh, cùng nhiều tàu vận tải, tàu cá để bảo vệ giàn khoan Hải Dương 981. Ngoài ra, hàng ngày còn có hàng chục tốp máy bay hoạt động trên khu vực. Có những thời điểm, số lượng tàu hộ tống của Trung Quốc lên tới hơn 100 chiếc, trong đó có các tàu chiến thường xuyên di chuyển xung quanh giàn khoan [39].
Để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế theo đúng quy định của luật pháp quốc tế, nước ta đã cử 29 tàu tới các khu vực gần giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc, khi nhận thấy giàn khoan này định “thiết lập vị trí cố định”. Lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam tích cực tuyên truyền, kêu gọi Trung Quốc chấm dứt ngay hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam. Ngày 4/5/2014, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam gửi thư đến Chủ tịch và Tổng giám đốc của Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc cực lực phản đối hành động của phía Trung Quốc và kiên quyết yêu cầu Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc dừng ngay lập tức các hoạt động bất hợp pháp và rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Ngày 05/5/2015, Việt Nam tổ chức họp báo, người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển của Việt Nam khi chưa được phép của Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị.
Đáp lại, tàu Trung Quốc liên tục có những hành vi gây hấn, khiêu khích như mở bạt che pháo để uy hiếp, sử dụng vòi rồng tấn công tàu của Việt Nam, sẵn sàng đâm húc gây hư hỏng cho tàu Việt Nam và làm bị thương một số kiểm ngư viên. Ngày 11/5/2014, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên công khai tố cáo Trung Quốc về việc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng hơn 80 tàu đi vào vùng biển Việt Nam và kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế. Ngày 15/5/2014, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố Việt Nam đã đưa công hàm phản đối Trung Quốc ra Liên Hiệp Quốc. Ngày 20/5/2014, 16 phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hiệp Quốc tại Genève đã gửi thông cáo đến Văn phòng Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc tế khác cũng như các cơ quan báo chí có trụ sở tại Genève, về sự kiện “Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông”.
Ngày 26/5/2014, tàu Trung Quốc bao vây và đâm chìm một tàu cá của ngư dân Đà Nẵng ở khu vực Nam Tây Nam cách giàn khoan 17 hải lý, là ngư trường truyền thống, thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Việt Nam đã tích cực tuyên truyền, giải thích rõ lập trường của mình cũng như cập nhật tình hình trên biển cho bạn bè quốc tế để dư luận các nước hiểu rõ sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Cộng đồng quốc tế đã có những phản ứng quyết liệt trước cách hành xử hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông. Một loạt các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Ấn Độ đã lên án các hành động bất chấp luật pháp quốc tế, gây mất ổn định và làm gia tăng căng thẳng trong khu vực của Bắc Kinh.
Tại Đối thoại Shangri-La diễn ra vào tháng 6/2014 ở Singapore, nguyên thủ và lãnh đạo các nước như Nhật Bản và Mỹ đã kịch liệt lên án các hành vi ngang ngược của Trung Quốc. Trước đó, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cũng khẳng định Việt Nam sẽ nghiên cứu mọi phương án để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình, kể cả phương án pháp lý, đó là kiện Trung Quốc lên tòa án quốc tế. Ở trong nước, dư luận Trung Quốc cũng xuất hiện ngày càng nhiều tiếng nói phản đối hành vi ngang ngược của Bắc Kinh đối với các nước láng giềng. Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng việc chính phủ của họ “gây chuyện” với các nước láng giềng sẽ không đem đến một kết cục có lợi, đồng thời phản bác những lập luận mà nhà cầm quyền đưa ra về tuyên bố chủ quyền phi lý bên trong “đường lưỡi bò”.
Ngày 15/7/2014,Trung Quốc đã quyết định rút Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam sớm hơn 1 tháng so với kế hoạch và được lý giải bằng lý do “đã hoàn thành nhiệm vụ”. 17 Cuối cùng, sau 75 ngày hạ đặt trái phép bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, dưới sức ép quyết liệt từ phía cộng đồng quốc tế, Trung Quốc cũng đã phải chấm dứt hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của mình và rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển Việt Nam.