Tổng quan nghiên cứu

Sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam kéo dài 75 ngày, từ ngày 02/5/2014 đến ngày 15/7/2014, là một trong những cuộc khủng hoảng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên Biển Đông trong thập niên 2010. Vị trí hạ đặt cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý về phía nam và cách đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý về phía đông đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Đứng trước tình hình Trung Quốc huy động hơn 80 đến hơn 100 tàu thuyền các loại, trong đó có 7 tàu quân sự như tàu hộ vệ tên lửa 534 và tàu tuần tiễu tên lửa tấn công nhanh 753, mặt trận thông tin đối ngoại bằng tiếng Anh nổi lên như một vũ khí tư tưởng sắc bén nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Nghiên cứu của học viên Nguyễn Tuấn Anh (2015) dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá thực trạng, đối chiếu nội dung, hình thức và chiến lược đưa tin của báo chí điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh giữa Việt Nam và Trung Quốc trong suốt thời gian diễn ra khủng hoảng. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cách thức báo chí tiếng Anh hai nước định hình dư luận quốc tế, hệ thống hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh truyền thông đối ngoại.

Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu đóng góp thiết thực vào việc thực thi Kết luận số 16-KL/TW ngày 14/02/2012 của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020 và Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng giúp tối ưu hóa sức mạnh mềm truyền thông, hướng đến cộng đồng hơn 4,5 triệu người Việt Nam tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ cũng như hàng triệu độc giả quốc tế, tạo đòn bẩy ngoại giao công chúng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận báo chí truyền thông hiện đại và các quan điểm chính trị - ngoại giao quốc tế. Hai trụ cột lý thuyết cốt lõi được áp dụng gồm:

Thứ nhất, Lý thuyết Ngoại giao công chúng (Public Diplomacy) được định hình bởi Trung tâm Ngoại giao Công chúng Edward R. Murrow thuộc Đại học Tufts và Lý thuyết Sức mạnh mềm (Soft Power) của Joseph Nye. Khung lý thuyết này khẳng định truyền thông đối ngoại là công cụ chiến lược mà các chính phủ sử dụng để tác động trực tiếp lên thái độ, nhận thức của công chúng nước ngoài, từ đó tạo áp lực lên các quyết sách ngoại giao quốc tế. Đồng thời, tác giả vận dụng các luận điểm về quyền lực truyền thông trong chính trị của Doris A. Graber và nguồn gốc chính trị của truyền thông đại chúng của Paul Starr để làm sáng tỏ cách các hãng tin định hình thông điệp chính trị.

Thứ hai, Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-Setting Theory) và Khung truyền thông (Framing Theory) trong báo chí học. Các lý thuyết này được sử dụng để phân tích cách thức các cơ quan báo chí lựa chọn, nhấn mạnh và cấu trúc các sự kiện thực địa thành các thông điệp có định hướng.

Bên cạnh đó, tác giả chuẩn hóa 4 khái niệm nền tảng:

  • Thông tin đối ngoại: Hoạt động thông tin truyền bá đường lối, chính sách, thành tựu đất nước ra thế giới và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.
  • Báo điện tử đối ngoại: Loại hình báo chí đa phương tiện hoạt động trên mạng Internet, tích hợp văn bản, âm thanh, hình ảnh và video nhằm phục vụ công chúng xuyên biên giới.
  • Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa: Khái niệm pháp lý xác lập theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
  • Tính tương tác truyền thông: Khả năng phản hồi hai chiều giữa cơ quan xuất bản và độc giả toàn cầu thông qua hệ thống mạng xã hội và diễn đàn trực tuyến.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát của luận văn được thu thập từ 4 cơ quan báo chí điện tử đối ngoại lớn của hai quốc gia: Báo Nhân Dân điện tử và Báo Thanh Niên online đại diện cho Việt Nam; Thời báo Hoàn Cầu (Global Times) và Nhật báo Trung Quốc (China Daily) đại diện cho Trung Quốc.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) đối với toàn bộ các tin, bài xuất bản bằng tiếng Anh phản ánh trực tiếp sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 trong đúng 75 ngày (từ 02/5/2014 đến 15/7/2014). Tổng cỡ mẫu phía Việt Nam ghi nhận 322 tác phẩm báo chí, bao gồm 248 bài trên Báo Nhân Dân điện tử và 74 bài trên Báo Thanh Niên online, kết hợp đối chiếu với hàng trăm bài viết từ hai nhật báo tiếng Anh của Trung Quốc.

Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích nội dung (content analysis) kết hợp định tính và định lượng, phương pháp phân tích thông điệp báo chí và phương pháp so sánh đối chiếu logic. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đo lường chính xác các biến số thực nghiệm: tần số xuất bản theo ngày, cơ cấu thể loại báo chí (tin nhanh, phóng sự, xã luận, ý kiến chuyên gia), phương thức sử dụng đa phương tiện (ảnh chụp hiện trường, video thực địa), và vị trí bố trí các công cụ tương tác mạng xã hội. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ việc thu thập dữ liệu thứ cấp, xử lý định lượng đến tổng kết bài học kinh nghiệm trong năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên 322 tác phẩm báo chí tiếng Anh của Việt Nam và các ấn phẩm đối sánh của Trung Quốc đã mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, có sự chênh lệch lớn về tần số xuất bản và cường độ thông tin giữa các cơ quan báo chí. Báo Nhân Dân điện tử tiếng Anh xuất bản tổng cộng 248 tin bài, chiếm 77% tổng lượng tin bài khảo sát tại Việt Nam, đạt tần suất trung bình 3,3 bài/ngày và cao điểm lên tới 9 bài/ngày. Ngược lại, Báo Thanh Niên online tiếng Anh đăng tải 74 tin bài, chiếm 23% tổng lượng, đạt mức trung bình gần 1 bài/ngày với các ngày cao điểm đạt từ 5 đến 6 bài. Dữ liệu này phản ánh vai trò cơ quan ngôn luận của Đảng với trách nhiệm dẫn dắt và cung cấp thông tin liên tục về lập trường chính nghĩa của Việt Nam.

Thứ hai, sự khác biệt rõ rệt về quy trình sản xuất và cơ cấu thể loại. Báo Nhân Dân điện tử tiếng Anh duy trì 100% nguồn tin biển đảo từ các ấn phẩm chính thống trong tòa soạn, trong đó khoảng 90% nội dung là dịch thuật - biên tập nâng cao từ bản tiếng Việt và 10% do phóng viên tự viết. Báo tập trung mạnh vào tin tường thuật chính sách, phát ngôn ngoại giao và hoạt động pháp lý quốc tế. Trong khi đó, Thanh Niên online tập trung khai thác các bài bình luận sâu (chuyên mục Opinions), phỏng vấn chuyên gia quốc tế và phản ánh thực địa của lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư. Phía Trung Quốc, Global Times (sở hữu mạng lưới hơn 350 phóng viên tại 90 quốc gia và dự án đầu tư truyền thông 45 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 6,6 tỷ USD) và China Daily (phát hành trên 500.000 bản/ngày) chủ yếu áp đặt các khung diễn ngôn đơn phương nhằm biện minh cho hành vi sai trái.

Thứ ba, sự bùng nổ về lưu lượng truy cập và ứng dụng đa phương tiện. Trong giai đoạn cao điểm, lượng tin bài đối ngoại về biển đảo của Thông tấn xã Việt Nam tăng từ 20-35% lên mức 70%, lượt truy cập trang ngoại ngữ tăng gấp 2 đến 3 lần, đạt gần 50.000 lượt/ngày với 145.000 lượt xem trang. Báo chí Việt Nam đã tích cực sử dụng video và hình ảnh chân thực về các vụ tàu Trung Quốc phun vòi rồng, đâm chìm tàu cá Đà Nẵng ngày 26/5/2014 cách giàn khoan 17 hải lý. Tuy nhiên, tính tương tác qua mạng xã hội (Facebook, Twitter) trên giao diện báo chí Việt Nam còn ở mức cơ bản so với hệ thống diễn đàn tiếng Anh quy mô lớn của China Daily.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu cho thấy báo chí đối ngoại tiếng Anh của Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò mũi nhọn thông tin, truyền tải trung thực tinh thần tuyên bố của lãnh đạo cấp cao: "không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông". Việc đưa tin kịp thời về hơn 30 cuộc giao thiệp ngoại giao, các công hàm gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc và đối thoại Shangri-La tháng 6/2014 đã tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ từ Mỹ, Nhật Bản, Philippines, EU và cộng đồng quốc tế.

Nguyên nhân dẫn đến thành công là sự chỉ đạo nhất quán từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự phối hợp đồng bộ giữa đấu tranh ngoại giao, pháp lý và thực địa. Hạn chế chủ yếu xuất phát từ nguồn lực công nghệ, tỷ lệ tin bài tự viết bằng tiếng Anh còn thấp, quy trình kiểm duyệt nhiều tầng nấc làm giảm tốc độ cạnh tranh thông tin tức thời so với các tập đoàn truyền thông quốc tế.

Về mặt trình bày học thuật, các số liệu trong luận văn được mô hình hóa trực quan thông qua các biểu đồ đường thể hiện tần số xuất bản 75 ngày, biểu đồ tròn phân bổ tỷ lệ thể loại báo chí và các bảng thống kê so sánh mức độ tích hợp video, hình ảnh minh họa giữa hai nước. Kết quả này bổ sung và khẳng định tính đúng đắn của các nghiên cứu trước đây về truyền thông đối ngoại của Đặng Thị Thu Hương (2011) và Văn Nghiệp Chúc (2012).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động nhằm nâng cao chất lượng báo điện tử đối ngoại Việt Nam:

Thứ nhất, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ và tối ưu hóa nền tảng số. Hành động: Nâng cấp toàn diện hệ thống quản trị nội dung (CMS), ứng dụng công nghệ phân phối dữ liệu đám mây và đặt máy chủ dự phòng tại Bắc Mỹ và Tây Âu nhằm tăng tốc độ truy cập từ nước ngoài lên 150% trong giai đoạn 2016-2020. Chủ thể thực hiện: Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các cơ quan báo chí đối ngoại trọng điểm.

Thứ hai, chuyển đổi mô hình sản xuất nội dung đa phương tiện. Hành động: Tái cơ cấu quy trình xuất bản, giảm tỷ lệ dịch thuật thụ động từ 90% xuống dưới 60%, tăng tỷ lệ bài phân tích độc lập, infographic, phóng sự truyền hình internet và video đa ngữ lên ít nhất 40% trong lộ trình 2 năm. Chủ thể thực hiện: Ban Biên tập Báo Nhân Dân điện tử, Báo Thanh Niên, Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm báo đối ngoại. Hành động: Tổ chức thường niên các chương trình đào tạo chuyên sâu về luật biển quốc tế (UNCLOS 1982), ngoại giao công chúng và kỹ năng biên tập báo chí tiếng Anh bản ngữ; phấn đấu 100% biên tập viên chuyên trang đối ngoại đạt chứng chỉ nghiệp vụ truyền thông quốc tế trước năm 2018. Chủ thể thực hiện: Hội Nhà báo Việt Nam, Khoa Báo chí và Truyền thông thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp Học viện Ngoại giao.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phản ứng nhanh và mở rộng tương tác mạng xã hội. Hành động: Xây dựng trung tâm xử lý khủng hoảng truyền thông trực tuyến, tích hợp đồng bộ các kênh phân phối trên các mạng xã hội toàn cầu, đặt chỉ tiêu tăng tỷ lệ tương tác và chia sẻ thông điệp chính nghĩa đạt trên 35% tổng lượng độc giả vào năm 2017. Chủ thể thực hiện: Ban Chỉ đạo Công tác Thông tin đối ngoại Trung ương phối hợp các tòa soạn báo điện tử đối ngoại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách đối ngoại: Cán bộ tại Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông có thể ứng dụng các số liệu thực tế về 75 ngày khủng hoảng để hoàn thiện chiến lược ngoại giao công chúng, thể chế hóa Nghị định số 72/2015/NĐ-CP ngày 07/9/2015 của Chính phủ về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại.

  2. Ban biên tập, phóng viên và biên tập viên báo điện tử: Đội ngũ làm báo đối ngoại tại Báo Nhân Dân, Báo Quân đội Nhân dân, VietnamPlus, VOV, Thanh Niên có thể sử dụng các phân tích về kỹ thuật viết tin tiếng Anh, quy trình hiệu đính bản ngữ và kinh nghiệm khai thác nguồn tin chuyên gia quốc tế để nâng cao tính cạnh tranh thông tin.

  3. Nhà nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành Báo chí - Truyền thông và Quan hệ Quốc tế: Các học giả có thể khai thác khung lý thuyết ngoại giao công chúng, mô hình phân tích nội dung định lượng và bộ dữ liệu 322 tác phẩm báo chí để làm tài liệu giảng dạy, phục vụ các công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyền thông chính trị và an ninh biển đảo.

  4. Học viên cao học và sinh viên đại học khối ngành Khoa học Xã hội: Người học ngành Báo chí học, Truyền thông Quốc tế, Đông phương học và Luật Quốc tế có thể tham khảo phương pháp luận khoa học, cách thức thu thập dữ liệu hiện trường và kỹ thuật so sánh đối chiếu văn bản báo chí để thực hiện các đề tài nghiên cứu tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mục tiêu trọng tâm của luận văn nghiên cứu về sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 là gì? Luận văn tập trung khảo sát, so sánh và đánh giá toàn diện nội dung, phương thức đưa tin bằng tiếng Anh của báo chí điện tử Việt Nam và Trung Quốc trong suốt 75 ngày căng thẳng trên thực địa. Mục tiêu cốt lõi là làm rõ hiệu quả bảo vệ chủ quyền biển đảo bằng công cụ truyền thông và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng báo điện tử đối ngoại Việt Nam.

  2. Cỡ mẫu và phạm vi khảo sát của đề tài được xác định như thế nào? Tác giả đã thu thập toàn bộ 322 tin bài tiếng Anh từ hai báo điện tử lớn của Việt Nam (248 bài trên Báo Nhân Dân điện tử và 74 bài trên Báo Thanh Niên online) cùng hệ thống bài viết đối sánh trên China Daily và Global Times của Trung Quốc từ ngày 02/5/2014 đến 15/7/2014.

  3. Đâu là điểm khác biệt then chốt giữa Báo Nhân Dân điện tử và Báo Thanh Niên online khi đưa tin sự kiện? Báo Nhân Dân điện tử đóng vai trò cơ quan ngôn luận chính thống, phát hành trung bình 3,3 bài/ngày với nguồn tin chuẩn xác tuyệt đối từ văn bản nhà nước. Báo Thanh Niên online phát hành trung bình gần 1 bài/ngày nhưng đẩy mạnh các bài bình luận chuyên sâu, phỏng vấn học giả quốc tế và ứng dụng hình thức tương tác hiện đại.

  4. Luận văn đã dựa trên những cơ sở pháp lý và văn kiện chính trị nào? Đề tài dựa trên các căn cứ luật pháp quốc tế như UNCLOS 1982, Tuyên bố DOC 2002, cùng các văn kiện chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam như Kết luận 16-KL/TW năm 2012 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 09-NQ/TW năm 2007 và Nghị định 72/2015/NĐ-CP của Chính phủ.

  5. Hạn chế lớn nhất của báo chí điện tử đối ngoại Việt Nam trong đợt tuyên truyền này là gì? Hạn chế lớn nhất được chỉ ra là tỷ lệ dịch thuật bài viết từ tiếng Việt còn chiếm tỷ trọng quá cao (khoảng 90% ở báo Đảng), số lượng bài điều tra, phóng sự viết trực tiếp bằng tiếng Anh còn ít và mức độ tích hợp công cụ chia sẻ mạng xã hội toàn cầu chưa bắt kịp các hãng truyền thông lớn.

Kết luận

  • Khẳng định vị thế xung kích của báo chí điện tử đối ngoại bằng tiếng Anh như một thành tố cốt lõi của sức mạnh mềm quốc gia trong bảo vệ chủ quyền biển đảo.
  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh và hệ thống hóa 322 tác phẩm báo chí đối ngoại của Việt Nam trong 75 ngày đấu tranh phản đối giàn khoan Hải Dương 981.
  • Vạch rõ sự đối lập giữa chiến lược truyền thông dựa trên công lý, luật pháp quốc tế UNCLOS 1982 của Việt Nam với truyền thông áp đặt dư luận của Trung Quốc.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp thực tiễn về công nghệ, nhân lực, nội dung đa phương tiện và mạng xã hội cho giai đoạn phát triển mới.
  • Đóng góp nguồn ngữ liệu và luận cứ khoa học chuẩn mực cho công tác nghiên cứu báo chí học và thực thi chính sách ngoại giao công chúng tại Việt Nam.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là làm sáng tỏ vai trò chuyển tải lập trường chính nghĩa của Việt Nam ra thế giới, biến thông tin đối ngoại thành cầu nối tranh thủ sự đồng thuận quốc tế rộng rãi. Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan báo chí và cơ quan quản lý cần khẩn trương hiện thực hóa các giải pháp nâng cấp hạ tầng số và đào tạo nhân lực trong giai đoạn 2016-2020. Độc giả, nhà nghiên cứu và các cơ quan truyền thông hãy chủ động khai thác triệt để các bài học kinh nghiệm từ luận văn này để xây dựng thế trận truyền thông đối ngoại biển đảo ngày càng vững chắc, chủ động và hiệu quả.