CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Báo chỉ Trong quá khứ cũng như trong hiện tại có nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra những khái niệm khác nhau về báo chí dưới những góc độ khác nhau. Theo triết học cổ đại Hi Lạp: "Sự báo chỉ từ chữ ỉnformation có nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin, và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiếu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lẩy hiện thực khách quan đê phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo - tác phẩm - công chủng” [41, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ định nghĩa báo chí gắn liền với truyền thông và được hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tượng nhất là "quá trình chuyển dữ liệu giữa các đon vị chức năng” [45, tr. Trong Từ điển xã hội học do G. Trommsdorff chủ biên, định nghĩa báo chí truyền thông là "sự tạo ra 2 đối tượng có thể mang bản chất sự sống hay không” [50, tr. Trong cuốn sách Xã hội học truyền thông đại chủng, tác giả Trần Hữu Quang thì khẳng định: "báo chỉ truyền thông là một quá trình truyền đạt, Tiếp nhận và trao đôi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người”.
Theo đó, tác giả định nghĩa: "truyền thông đại chủng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phưong tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình” [50, tr. Như vậy, nhìn chung các tác giả trên bằng cách này hay cách khác, đã cố gắng đưa ra những định nghĩa chung nhất về báo chí và tự dưng lại đều xem báo chí như một phương tiện truyền đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội. Những định nghĩa được đưa ra như một sự cố gắng để khẳng định 12 nội hàm cơ bản của báo chí. Tuy nhiên, trong một phạm vi nhất định, đây là những định nghĩa khá rộng và chưa biểu thị hết các loại hình báo chí đang hiện diện trong xã hội và các loại hình ấy được hiểu như thế nào diễn đạt ra sao.
Theo Điều 3 Luật Báo chí 2016 quy định: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyền dẫn báo điện từ và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình. Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in. Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.
Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. Điều 3 luật báo chí chưa được xem như một định nghĩa chính thức về báo chí nhưng với cách liệt kê như trên đã chỉ rõ các loại hình báo chí trong xã hội và sẽ được làm căn cứ chủ yếu để tìm hiểu các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí. Văn hóa Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa đã từng được nghiên cứu rất nhiều và có nhiều định nghĩa khác nhau. Sở dĩ như vậy là do văn hóa được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau.
Xã hội càng phát triển thì văn hóa càng phát triển theo và văn hóa cũng chính là động lực thúc đẩy cho cuộc sống con người phát triển lên những bước cao hơn. Ó các nước phương Tây, khái niệm văn hóa được bắt nguồn từ tiếng La Tinh: “cultura” có nghĩa là trồng trọt, canh tác, từ đó hiểu rộng ra là chăm sóc, 13 vun trông, chăm sóc cây côi, chăm sóc con người, trông cây - trông người, đào tạo khả năng con người về mọi mặt. Tuy nhiên, đến nửa sau thế kỷ XVIII, thuật ngữ “cultura” mới thực sự trở thành quan niệm, một thuật ngữ với tư cách khoa học. Phương Đông, theo nguyên nghĩa của chữ Hán: “Văn” là đẹp, “Hóa” là giáo hóa.
Văn hóa có thể hiểu nôm na là giáo hóa cái đẹp. Quan niệm về cái đẹp của mỗi dân tộc có những sự khác biệt. Chính những khác biệt trong văn hóa của mồi dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú, tạo nên bản sắc văn hóa của mồi dân tộc tạo nên bản sắc văn hóa của mồi cộng đồng. Cái riêng về văn hóa mỗi dân tộc là cơ sở để phân chia văn hóa Đông - Tây, văn hóa dân tộc, văn hóa vùng miền, văn hóa từng dân tộc và văn hóa của mồi gia đình, cộng đồng.
Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam tiếp cận nghiên cứu theo nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau về văn hóa và đã đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa trở thành đầu mối của các cuộc tranh luận lâu dài. Vì vậy, khái niệm văn hóa cũng được hiểu theo nhiều cấp độ, thậm chí có những định nghĩa rất khác nhau, vẫn còn là một khái niệm “để ngỏ” hay còn gọi là “khái niệm mở”. Dưới góc độ triết học, văn hóa được định nghĩa “tó triết lí về cuộc sống, về các giá trị, các tiêu chuân và quy chế, cách hành xử thực tế cũng như các sản phãm vật thể và phi vật thế được tạo ra từ những nhân tố này. Triết lí và những sản phẩm này được con người kế thừa từ các thế hệ sau, để cuối cùng dưới mọi hình thức khác nhau, và bằng cách này hay cách khác phân biệt những cá thể thuộc nền văn hóa này với những cá thể nền văn hóa khác" [23, tr.
Năm 1988, nhân dịp Lễ phát động Thập kỷ Thế giới phát triển văn hóa (1988-1997), theo đó UNESCO cho rằng: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm cả mặt tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần tủy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền cơ bản về con người, truyền thống và tín ngưỡng” [39, tr. 14 Năm 2002, trong tuyên bố về đa dạng văn hóa, UNESCO đưa ra định nghĩa mới về văn hóa: “văn hóa được đề cập đến như một tập họp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn hóa và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị truyền thống và đức tin” [65, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng việc kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn hiến ngàn năm của dân tộc Việt Nam.
Người coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa tinh thần. Người đã lí giải giản dị và dễ hiểu rằng: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo đó gọi là văn hóa. Văn hóa là sự tông họp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15, tr.
Theo Đại từ điên Tiếng Việt, “văn hóa” là một danh từ, có 5 cách hiểu: (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử như: nền văn hóa dân tộc hay kho tàng văn hóa dân tộc; (2) đời sống tinh thần của con người như: kinh tế, văn hóa tồn tại và phát triền trong đời sống hàng ngày của nhân dân; (3) tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ vãn hỏa, các môn văn hóa. (4) lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh; (5) nền văn hỏa một thời cô xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điêm chung như: văn hóa Đông Sơn, văn hỏa rìu hai vai. Học giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương, theo ông hai tiếng văn hóa là chỉ chung tất cả những phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên có thế nói: “văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr. Viện sỳ Trân Ngọc Thêm trong công trình nghiên cứu Cơ sở văn hóa Việt 15 Nam.
Văn hóa theo ông được hiểu như sau: “vỗM hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quả trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [61, tr. Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận văn hóa Mác - Lênin, Khoa Văn hóa Xã hội chủ nghĩa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chẩp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho các thế hệ sau. Vãn hóa thê hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [32, tr.
Không một giới hạn khuôn khổ nào về nhận thức và hoạt động của văn hóa, ít nhiều không bị chi phối và có khi bị đảo lộn bởi tầm cỡ và kích thước của nền văn hóa như hiện nay. Song sự khác nhau giữa các khái niệm đó chỉ là về mức độ rộng, hẹp của vấn đề, về những yếu tố, giới hạn về lĩnh vực văn hóa. chứ không phải khác nhau về cái tổng quát, cái nền của văn hóa. Như vậy, những định nghĩa về văn hóa đã bao hàm sự vô cùng phong phú của khái niệm.