Luận văn: Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại NHNN Nam Định

Tải luận văn thạc sỹ phân tích thực trạng và giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng thương mại tại NHNN Nam Định.

Trường đại học

Học Viện Ngân Hàng

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1.1. Sự ra đời của Ngân hàng Trung ương

1.1.2. Vai trò, chức năng của Ngân hàng Trung ương

1.2. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.2.1. Khái niệm, đối tượng và mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng

1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn thanh tra,giám sát ngân hàng

1.2.3. Phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng

1.2.4. Nội dung thanh tra, giám sát ngân hàng

1.2.5. Quy trình thanh tra, giám sát ngân hàng

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT

1.3.1. Nhân tố khách quan

1.3.2. Nhân tố chủ quan

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH NAM ĐỊNH

2.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN

2.1.1. Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định

2.1.2. Hoạt động của hệ thống ngân hàng thuơng mại trên địa bàn tỉnh Nam Định

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH NAM ĐỊNH

2.2.1. Nhiệm vụ và quyền hạn thanh tra, giám sát tại Ngân hàng Nhà nuớc chi nhánh tỉnh Nam Định

2.2.2. Tổ chức, bộ máy và cơ chế điều hành của thanh tra, giám sát tại Ngân hàng Nhà nuớc chi nhánh tỉnh Nam Định

2.2.3. Thực trạng hoạt động thanh tra tại chỗ tại Ngân hàng Nhà nuớc chi nhánh tỉnh Nam Định

2.2.4. Thực trạng hoạt động giám sát từ xa của Ngân hàng Nhà nuớc chi nhánh tỉnh Nam Định

2.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH NAM ĐỊNH ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

2.3.1. Kết quả đạt đuợc

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH NAM ĐỊNH

3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NGÀNH NGÂN HÀNG VÀ THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TỈNH NAM ĐỊNH ĐẾN NĂM 2025

3.1.1. Định huớng hoạt động toàn ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2025

3.1.2. Định hướng hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng trên địa bàn tỉnh Nam Định

3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH NAM ĐỊNH

3.2.1. Chủ động hơn nữa trong việc triển khai thực hiện các văn bản, chính sách pháp luật về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn tỉnh Nam Định

3.2.2. Nắm bắt và xử lý thông tin về các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định

3.2.3. Xử lý những tồn tại trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nam Định

3.2.4. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nam Định

3.2.5. Hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nam Định

3.2.6. Nâng cao chất lượng trong việc phối hợp giữa thanh tra Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nam Định và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Thanh tra tỉnh, Kiểm soát nội bộ các Tổ chức tín dụng

3.2.7. Đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng

3.2.8. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vai trò của luận văn thanh tra giám sát ngân hàng tại Nam Định

Hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng đóng vai trò trụ cột trong việc đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính. Một bài luận văn thanh tra giám sát ngân hàng tại Nam Định chất lượng phải hệ thống hóa được cơ sở lý luận, làm rõ mục tiêu và chức năng của công tác này. Mục đích chính không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo tuân thủ pháp luật, mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền và duy trì lòng tin công chúng. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các ngân hàng thương mại tại Nam Định đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức. Sự cạnh tranh gia tăng và rủi ro tiềm ẩn đòi hỏi một cơ chế giám sát hiệu quả từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Nam Định. Do đó, hoạt động thanh tra giám sát phải được xem là công cụ quản lý vĩ mô, giúp phát hiện sớm các rủi ro, ngăn chặn vi phạm và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Luận văn của tác giả Ngô Thanh Hải (2020) đã khẳng định: "TTGS ngân hàng sẽ góp phần đảm bảo an toàn hệ thống NHTM, đặc biệt là trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng, phức tạp của các NHTM Việt Nam luôn tiềm ẩn rủi ro". Nghiên cứu này không chỉ là một đề tài nghiên cứu khoa học mà còn là tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên, học viên cao học ngành tài chính - ngân hàng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực tiễn hoạt động tại địa phương. Nó phân tích các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát, từ đó đặt nền móng cho việc đề xuất các giải pháp cải thiện, giúp hệ thống ngân hàng phát triển bền vững và minh bạch.

1.1. Mục đích cốt lõi của hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng

Mục đích của thanh tra, giám sát không chỉ là kiểm tra việc tuân thủ quy định. Hoạt động này có bốn mục tiêu cốt lõi. Thứ nhất, đảm bảo việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, tạo ra một sân chơi công bằng. Thứ hai, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và sự ổn định của toàn hệ thống, ngăn ngừa rủi ro mang tính dây chuyền. Thứ ba, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, vốn là đối tượng dễ bị tổn thương và thiếu thông tin chuyên môn. Cuối cùng, duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng. Lòng tin là yếu tố sống còn, quyết định sự ổn định và khả năng huy động vốn của ngành ngân hàng.

1.2. Khám phá khung cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra ngân hàng

Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng phải dựa trên một cơ sở pháp lý vững chắc và đồng bộ. Các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, và các thông tư, quyết định liên quan tạo thành hành lang pháp lý cho công tác này. Một khung pháp lý rõ ràng, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ là nền tảng để cơ quan thanh tra thực thi nhiệm vụ hiệu quả. Ngược lại, sự chồng chéo, mâu thuẫn hoặc thiếu sót trong các văn bản pháp luật sẽ gây khó khăn, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước và tạo ra kẽ hở cho các hành vi vi phạm.

II. Thách thức trong thực trạng thanh tra giám sát ngân hàng Nam Định

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác thanh tra giám sát ngân hàng tại Nam Định vẫn đối mặt với không ít thách thức. Luận văn của Ngô Thanh Hải chỉ ra rằng, hoạt động này đôi khi còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Một trong những vấn đề lớn là chất lượng của công tác giám sát từ xa (GSTX) chưa thực sự phát huy vai trò cảnh báo sớm. Dữ liệu từ GSTX chưa được khai thác triệt để nhằm phục vụ cho công tác thanh tra tại chỗ (TTTC), dẫn đến sự thiếu liên kết giữa hai phương pháp. Bên cạnh đó, các cuộc thanh tra vẫn còn nặng về thanh tra tuân thủ, chưa thực sự chuyển đổi mạnh mẽ sang phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro theo thông lệ quốc tế. Điều này làm giảm khả năng nhận diện các rủi ro tiềm ẩn trước khi chúng gây ra tổn thất lớn. Một thách thức khác đến từ chính các tổ chức tín dụng, khi nhận thức về tầm quan trọng của giám sát chưa đồng đều, dẫn đến sự phối hợp chưa chặt chẽ, thậm chí là các hành vi che giấu thông tin. Hơn nữa, chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác thanh tra đôi khi chưa theo kịp sự phát triển phức tạp của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại. Những hạn chế này đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro ngân hàng.

2.1. Nhận diện rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại Nam Định

Hệ thống ngân hàng thương mại Nam Định phải đối mặt với nhiều loại rủi ro cố hữu. Rủi ro tín dụng vẫn là rủi ro trọng yếu, đặc biệt khi nền kinh tế địa phương phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp và các ngành công nghiệp thâm dụng vốn, dễ bị ảnh hưởng bởi biến động thị trường. Tình trạng xử lý nợ xấu vẫn là một bài toán cần giải quyết triệt để. Ngoài ra, rủi ro hoạt động liên quan đến sai sót của con người, sự cố hệ thống công nghệ thông tin và gian lận nội bộ ngày càng gia tăng. Rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản cũng là những mối đe dọa thường trực trong môi trường kinh doanh biến động.

2.2. Hạn chế trong giám sát từ xa và hoạt động thanh tra tại chỗ

Công tác giám sát từ xa tại chi nhánh còn hạn chế do chất lượng báo cáo của một số TCTD chưa cao, thông tin đôi khi thiếu chính xác hoặc không kịp thời. Việc phân tích, đánh giá và đưa ra cảnh báo sớm chưa thực sự hiệu quả. Trong khi đó, hoạt động thanh tra tại chỗ dù đã phát hiện nhiều sai phạm nhưng thường mang tính thời điểm, khó bao quát hết các hoạt động. Nguồn lực thanh tra viên còn mỏng so với số lượng TCTD ngày càng tăng trên địa bàn, dẫn đến tần suất thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.

III. Phương pháp luận trong thanh tra giám sát ngân hàng hiện đại

Một bài luận văn thanh tra giám sát ngân hàng tại Nam Định không thể bỏ qua việc phân tích sâu về phương pháp luận. Hiện nay, có hai phương pháp chính được áp dụng là giám sát trên cơ sở tuân thủ và giám sát trên cơ sở rủi ro. Phương pháp tuân thủ tập trung vào việc đối chiếu hoạt động của ngân hàng với các quy định pháp luật. Đây là phương pháp truyền thống, cần thiết để đảm bảo kỷ cương nhưng lại có nhược điểm là bị động, chỉ phát hiện sai phạm khi nó đã xảy ra. Ngược lại, phương pháp trên cơ sở rủi ro là một cách tiếp cận chủ động và tiên tiến hơn. Nó tập trung vào việc đánh giá các rủi ro trọng yếu mà một tổ chức tín dụng đang và sẽ phải đối mặt, từ đó phân bổ nguồn lực thanh tra một cách hợp lý. Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa (2019), "việc chuyển hướng phương pháp TTGS từ TTGS tuân thủ sang TTGS trên cơ sở rủi ro theo thông lệ quốc tế đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những nội dung trọng tâm". Sự kết hợp linh hoạt giữa giám sát từ xa để theo dõi liên tục và thanh tra tại chỗ để kiểm tra sâu vào các lĩnh vực rủi ro cao là chìa khóa để nâng cao hiệu quả. Việc áp dụng các mô hình đánh giá rủi ro như chỉ số CAMELS cũng giúp lượng hóa và xếp hạng các ngân hàng, tạo cơ sở cho các hành động can thiệp kịp thời.

3.1. Phân tích quy trình giám sát tuân thủ và hạn chế của nó

Giám sát tuân thủ là phương pháp kiểm tra xem các TCTD có chấp hành đúng các quy định trong giấy phép, các giới hạn về tỷ lệ an toàn và các văn bản pháp luật khác hay không. Quy trình giám sát tuân thủ thường bao gồm các bước: thu thập thông tin, đối chiếu với quy định, phát hiện vi phạm và đưa ra biện pháp xử lý. Hạn chế lớn nhất của phương pháp này là nó chỉ tập trung vào quá khứ và hiện tại, không có khả năng dự báo và cảnh báo sớm các rủi ro tiềm ẩn. Các TCTD có thể đối phó bằng cách điều chỉnh hoạt động để tuân thủ vào đúng thời điểm báo cáo hoặc thanh tra.

3.2. Hướng tới thanh tra trên cơ sở rủi ro Xu hướng tất yếu

Thanh tra trên cơ sở rủi ro là một bước tiến vượt bậc. Phương pháp này đòi hỏi thanh tra viên phải có cái nhìn toàn diện về mô hình kinh doanh, chiến lược và môi trường hoạt động của ngân hàng. Quy trình bắt đầu bằng việc nhận dạng các rủi ro trọng yếu (tín dụng, thị trường, thanh khoản, hoạt động), sau đó đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và năng lực quản trị rủi ro ngân hàng. Kết quả đánh giá này sẽ quyết định phạm vi, tần suất và cường độ của các cuộc thanh tra. Cách tiếp cận này giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào những nơi có nguy cơ cao nhất, từ đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa.

IV. Phân tích thực trạng hoạt động thanh tra tại Nam Định 2015 2019

Giai đoạn 2015-2019 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng thương mại Nam Định, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn cho công tác quản lý. Dựa trên số liệu từ luận văn, mạng lưới hoạt động của các NHTM đã mở rộng đáng kể cả về số lượng chi nhánh và phòng giao dịch. Hoạt động kinh doanh ghi nhận tăng trưởng ấn tượng, với tổng vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng đều qua các năm. Cụ thể, vốn huy động tăng 32,632 tỷ đồng từ 2015 đến 2019. Tuy nhiên, đi kèm với tăng trưởng tín dụng là những rủi ro về chất lượng tài sản. Tỷ lệ nợ xấu, dù được kiểm soát dưới mức 3%, nhưng có xu hướng tăng vào năm 2019, cho thấy áp lực trong việc xử lý nợ xấu vẫn còn hiện hữu. Trong giai đoạn này, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Nam Định đã tích cực triển khai các cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất. Các cuộc thanh tra tại chỗ đã phát hiện ra nhiều sai phạm, chủ yếu liên quan đến quy trình cấp tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Các kết luận thanh tra đã đưa ra nhiều kiến nghị quan trọng, yêu cầu các TCTD chấn chỉnh hoạt động, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường và tăng cường minh bạch thông tin tài chính.

4.1. Kết quả kinh doanh và hiệu quả hoạt động tín dụng thực tế

Theo Bảng 2.2 của luận văn, dư nợ cấp tín dụng của các NHTM trên địa bàn tăng từ 29,947 tỷ đồng năm 2015 lên 56,194 tỷ đồng vào năm 2019. Hiệu quả hoạt động tín dụng được thể hiện qua lợi nhuận tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, năm 2019, nợ xấu tăng lên 940 tỷ đồng (tỷ lệ 1,67%), một phần do ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như dịch bệnh trong nông nghiệp. Điều này cho thấy chất lượng tín dụng cần được giám sát chặt chẽ hơn nữa, đặc biệt là trong các lĩnh vực có độ rủi ro cao.

4.2. Đánh giá bộ máy và nhân lực của NHNN chi nhánh Nam Định

Tính đến cuối năm 2019, bộ phận thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Nam Định có 14 cán bộ. Lực lượng này tương đối ổn định trong giai đoạn 2015-2019. Về chất lượng, đội ngũ cán bộ ngày càng được trẻ hóa và nâng cao trình độ chuyên môn, với 6 thạc sĩ và 8 cử nhân vào năm 2019. Tuy nhiên, số lượng cán bộ vẫn còn mỏng so với quy mô ngày càng lớn của hệ thống TCTD trên địa bàn, đặt ra thách thức về khối lượng công việc và yêu cầu chuyên môn hóa sâu hơn trong từng lĩnh vực giám sát.

V. Top giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát ngân hàng Nam Định

Để nâng cao hiệu quả thanh tra giám sát ngân hàng tại Nam Định, việc triển khai một cách đồng bộ các giải pháp là vô cùng cần thiết. Dựa trên những phân tích và định hướng đến năm 2025 trong tài liệu nghiên cứu, một số giải pháp trọng tâm cần được ưu tiên. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo tính thống nhất và phù hợp với thực tiễn. Giải pháp thứ hai là phải quyết liệt chuyển đổi từ giám sát tuân thủ sang giám sát trên cơ sở rủi ro, kết hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xathanh tra tại chỗ. Điều này đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm hiệu quả và ứng dụng các mô hình tiên tiến như chỉ số CAMELS. Thứ ba, tăng cường đầu tư vào công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về phân tích rủi ro, phòng chống rửa tiền (AML), và các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. Thứ tư, nâng cao chất lượng phối hợp giữa cơ quan thanh tra ngân hàng với các đơn vị khác như Bảo hiểm tiền gửi, Thanh tra tỉnh và bộ phận kiểm soát nội bộ của chính các TCTD. Cuối cùng, cần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành của các TCTD, xem hoạt động thanh tra giám sát là một cơ chế hỗ trợ để phát triển an toàn và bền vững.

5.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ mới

Con người là yếu tố quyết định. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ thanh tra, cập nhật kiến thức về các chuẩn mực quốc tế (như Basel II, Basel III) và các kỹ năng phân tích dữ liệu lớn. Đồng thời, phải đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, tự động hóa quy trình thu thập và xử lý báo cáo tài chính ngân hàng, giúp phát hiện các xu hướng bất thường một cách nhanh chóng và chính xác.

5.2. Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát theo chuẩn mực CAMELS

Hệ thống xếp hạng CAMELS (Capital Adequacy, Asset Quality, Management, Earnings, Liquidity, Sensitivity to market risk) là một công cụ mạnh mẽ để đánh giá sức khỏe toàn diện của một ngân hàng. Việc xây dựng và áp dụng một bộ chỉ số CAMELS phù hợp với điều kiện của Nam Định sẽ giúp lượng hóa rủi ro, đưa ra các đánh giá khách quan và là cơ sở để phân loại TCTD. Từ đó, cơ quan quản lý có thể đưa ra các biện pháp can thiệp sớm và phù hợp đối với những tổ chức có dấu hiệu yếu kém.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
0887 hoạt động thanh tra giám sát nhtm tại nh nhà nước chi nhánh tỉnh nam định luận văn thạc sỹ file word

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Sự ra đời của Ngân hàng Trung ương Hiện nay trên thế giới, tại bất cứ quốc gia nào cũng có Ngân hàng Trung ương (NHTW). Nhà Kinh tế học người Anh Vera Smith (1936) cho rằng “Định nghĩa cơ bản của NHTW là hệ thống ngân hàng trong đó một ngân hàng duy nhất có độc quyền hoàn toàn về phát hành tiền”.

Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, “NHTW là ngân hàng ở bất kỳ quốc gia nào được giao nhiệm vụ điều tiết khối lượng tiền tệ và tín dụng tại quốc gia đó”. Theo Nguyễn Thị Mùi (2006), “NHTW là một định chế công cộng, có nhiệm vụ chủ yếu là in đúc và phát hành tiền, điều tiết cung ứng tiền, là ngân hàng của các ngân hàng và cung cấp dịch vụ cho Chính phủ”. Theo Hà Quang Đào (2009), “NHTW là cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và họat động ngân hàng, được độc quyền phát hành tiền và ngân hàng của các ngân hàng”. Nguyễn Thị Minh Hương (2012) cho rằng “NHTW là ngân hàng phát hành tiền của quốc gia, là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong phạm vi toàn quốc”.

Như vậy có thể thấy NHTW là một định chế công cộng, thực hiện các chức năng: độc quyền phát hành tiền, ngân hàng của các ngân hàng, của chính phủ, chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng. NHTW bắt nguồn từ những ngân hàng phát hành. Cho đến đầu thế kỷ 10 XX, các ngân hàng này vẫn thuộc sở hữu tu nhân. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, từ bài học kinh nghiệm của cuộc đại suy thoái kinh tế những năm 1929 - 1933 cùng với sự phát triển của học thuyết kinh tế Keynes (vào cuối những năm 1930) và Milton Friedman (năm 1960) về sự cần thiết vai trò quản lý vĩ mô của nhà nuớc đối với nền kinh tế và ảnh huởng của khối luợng tiền cung ứng đối với các biến số kinh tế vĩ mô, nhiều nuớc trên thế giới đã nhận ra tầm quan trọng của việc phải thành lập một ngân hàng đóng vai trò quản lý về tiền tệ, tín dụng và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia.

Qua đó, các NHTW đuợc thành lập hoặc bằng cách quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hiện tại hoặc nhà nuớc thành lập mới và nắm quyền sở hữu. Các nuớc tu bản lớn có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đời nhu Pháp, Anh,. thì thành lập NHTW bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng phát hành thông qua mua lại cổ phần của các ngân hàng này rồi bổ nhiệm nguời điều hành. Một số nuớc tu bản khác thì Nhà nuớc chỉ nắm cổ phần khống chế hoặc vẫn để thuộc sở hữu tu nhân nhung Nhà nuớc bổ nhiệm nguời điều hành.

Tuy đều là NHTW nhung mỗi nuớc lại có tên gọi khác nhau, nhu: Ngân hàng Thái Lan, Ngân hàng Pháp, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, Ngân hàng Dự trữ Ân Độ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Dự trữ Australia, Thống đốc và đồng sự của Ngân hàng Anh, Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam. Vai trò, chức năng của Ngân hàng Trung ương 1. Vai trò của ngân hàng trung ương Vai trò của NHTW trong quản lý vĩ mô về tiền tệ và ngân hàng đuợc thể hiện thông qua việc: xây dựng, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống các TCTD. Xây dựng, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia “Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử 11 dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền tệ lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đảm bảo các mục tiêu xã hội hợp lý” (Ngân hàng Trung ương, Nguyễn Duệ, 2005).

NHTW có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định các chính sách tiền tệ quốc gia vì mọi hoạt động của NHTW đều ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống TCTD (như lượng tiền cung ứng ra thị trường, lãi suất, tỷ giá,.), qua đó ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế - xã hội. Vì thế, xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia là một hoạt động trọng tâm của NHTW. Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống các Tổ chức tín dụng NHTW không chỉ cung ứng dịch vụ cho các TCTD mà còn thực hiện vai trò quản lý nhà nước thông qua hoạt động TTGS, nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền Thứ nhất: Bảo đảm sự ổn định của hệ thống các TCTD: Do hoạt động của hệ thống TCTD liên quan đến hầu hết các hoạt động của nền kinh tế nên bất kỳ sự mất ổn định nào của ngành ngân hàng cũng tác động tiêu cực lên kinh tế của đất nước. Do vậy, việc NHTW thực hiện quản lý và kiểm soát hoạt động của các TCTD là cần thiết để đảm bảo sự hoạt động của hệ thống luôn duy trì trong khuôn khổ pháp luật và góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ đã được hoạch định.

NHTW thực hiện quản lý các TCTD thông qua các công cụ như: cấp, thu hồi giấy phép hoạt động; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng. Thứ hai: bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền: Việc thực hiện thanh tra, giám sát các TCTD còn nhằm mục đích bảo đảm công bằng, bình đẳng trong quan hệ của khách hàng với TCTD, thể hiện qua 12 việc: Bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách hàng thông qua các quy định về lãi suất, thủ tục gửi tiền, vay vốn., quy định về giải quyết tranh chấp giữa ngân hàng và khách hàng; lành mạnh hóa sự cạnh tranh giữa các TCTD qua các quy định công khai, minh bạch thông tin. Chức năng của ngân hàng trung ương a. Ngân hàng phát hành tiền NHTW đuợc độc quyền phát hành tiền giấy và tiền kim khí duyệt (về mệnh giá, mức phát hành.) theo các qui định của pháp luật để bảo đảm thống nhất và an toàn cho hệ thống luu thông tiền tệ của quốc gia.

Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền luu thông hợp pháp duy nhất trong cả nuớc và không hạn chế thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định phát hành số luợng tiền bao nhiêu; thời điểm, phuơng thức phát hành hợp lý để đảm bảo ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế quốc gia. Duới chế độ bản vị vàng, NHTW đuợc yêu cầu phát hành tiền giấy trên cơ sở có vàng đảm bảo. Tuy nhiên, yêu cầu này dẫn đến sự thiếu linh hoạt trong phát hành tiền do khối luợng tiền phát hành không gắn với nhu cầu luu thông, trao đổi hàng hoá trên thị truờng mà phụ thuộc vào số luợng vàng dự trữ của NHTW.

Khi nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế vuợt quá khả năng đảm bảo bằng vàng dự trữ, các NHTW không thể đáp ứng đuợc. Do đó, yêu cầu đảm bảo bằng vàng dần dần bị hủy bỏ. Ngày nay, luợng tiền phát hành đuợc quyết định dựa trên cơ sở nghiên cứu về nhu cầu của nền kinh tế. Ngân hàng của các ngân hàng NHTW không tham gia kinh doanh tiền tệ trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các ngân hàng trung gian: Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian: Các ngân 13 hàng trung gian phải duy trì thường xuyên một lượng tiền gửi trên tài khoản tại NHTW.

Tiền gửi của ngân hàng bao gồm dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán. Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian: Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản tại NHTW nên họ có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Do vậy, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian. Thông qua đó, NHTW đã góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí thanh toán.

Mặt khác, NHTW có thể kiểm tra sự biến động vốn khả dụng của từng ngân hàng trung gian, là cơ sở để có những kiến nghị kịp thời khi có bất ổn xảy ra. Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian: NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung gian không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW. Ngoài ra, NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho sự an toàn của hệ thống các TCTD khi là "Người cho vay cuối cùng" đối với ngân hàng có nguy cơ phá sản.

Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng nhận được sự hỗ trợ này của NHTW. Chỉ khi sự sụp đổ của ngân hàng đó có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại và an toàn của cả hệ thống TCTD thì NHTW mới can thiệp. Ngân hàng của Chính phủ Là một định chế tài chính công cộng, NHTW đã được xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của chính phủ. Với chức năng này, NHTW có nghĩa vụ làm thủ quỹ cho Kho bạc Nhà nước, tạm ứng cho ngân sách quốc gia và đại lý, tư vấn chính sách cho Chính phủ.

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm, đối tượng và mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng 1. Khái niệm thanh tra, giám sát ngân hàng * về thanh tra ngân hàng Theo tiếng Latinh, thanh tra có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng nhất định. Theo từ điển pháp luật Anh - Việt (1991), thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối tượng bị thanh tra”.

Theo từ điển tiếng Việt (2003), thanh tra là “đến tận nơi xem xét, kiểm tra sự việc nhằm đưa các hoạt động theo định hướng và theo các quy trình, quy phạm đã được xác định trên các văn bản nhà nước”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ