CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Sự ra đời của Ngân hàng Trung ương Hiện nay trên thế giới, tại bất cứ quốc gia nào cũng có Ngân hàng Trung ương (NHTW). Nhà Kinh tế học người Anh Vera Smith (1936) cho rằng “Định nghĩa cơ bản của NHTW là hệ thống ngân hàng trong đó một ngân hàng duy nhất có độc quyền hoàn toàn về phát hành tiền”.
Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, “NHTW là ngân hàng ở bất kỳ quốc gia nào được giao nhiệm vụ điều tiết khối lượng tiền tệ và tín dụng tại quốc gia đó”. Theo Nguyễn Thị Mùi (2006), “NHTW là một định chế công cộng, có nhiệm vụ chủ yếu là in đúc và phát hành tiền, điều tiết cung ứng tiền, là ngân hàng của các ngân hàng và cung cấp dịch vụ cho Chính phủ”. Theo Hà Quang Đào (2009), “NHTW là cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và họat động ngân hàng, được độc quyền phát hành tiền và ngân hàng của các ngân hàng”. Nguyễn Thị Minh Hương (2012) cho rằng “NHTW là ngân hàng phát hành tiền của quốc gia, là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong phạm vi toàn quốc”.
Như vậy có thể thấy NHTW là một định chế công cộng, thực hiện các chức năng: độc quyền phát hành tiền, ngân hàng của các ngân hàng, của chính phủ, chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng. NHTW bắt nguồn từ những ngân hàng phát hành. Cho đến đầu thế kỷ 10 XX, các ngân hàng này vẫn thuộc sở hữu tu nhân. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, từ bài học kinh nghiệm của cuộc đại suy thoái kinh tế những năm 1929 - 1933 cùng với sự phát triển của học thuyết kinh tế Keynes (vào cuối những năm 1930) và Milton Friedman (năm 1960) về sự cần thiết vai trò quản lý vĩ mô của nhà nuớc đối với nền kinh tế và ảnh huởng của khối luợng tiền cung ứng đối với các biến số kinh tế vĩ mô, nhiều nuớc trên thế giới đã nhận ra tầm quan trọng của việc phải thành lập một ngân hàng đóng vai trò quản lý về tiền tệ, tín dụng và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia.
Qua đó, các NHTW đuợc thành lập hoặc bằng cách quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hiện tại hoặc nhà nuớc thành lập mới và nắm quyền sở hữu. Các nuớc tu bản lớn có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đời nhu Pháp, Anh,. thì thành lập NHTW bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng phát hành thông qua mua lại cổ phần của các ngân hàng này rồi bổ nhiệm nguời điều hành. Một số nuớc tu bản khác thì Nhà nuớc chỉ nắm cổ phần khống chế hoặc vẫn để thuộc sở hữu tu nhân nhung Nhà nuớc bổ nhiệm nguời điều hành.
Tuy đều là NHTW nhung mỗi nuớc lại có tên gọi khác nhau, nhu: Ngân hàng Thái Lan, Ngân hàng Pháp, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, Ngân hàng Dự trữ Ân Độ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Dự trữ Australia, Thống đốc và đồng sự của Ngân hàng Anh, Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam. Vai trò, chức năng của Ngân hàng Trung ương 1. Vai trò của ngân hàng trung ương Vai trò của NHTW trong quản lý vĩ mô về tiền tệ và ngân hàng đuợc thể hiện thông qua việc: xây dựng, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống các TCTD. Xây dựng, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia “Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử 11 dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền tệ lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đảm bảo các mục tiêu xã hội hợp lý” (Ngân hàng Trung ương, Nguyễn Duệ, 2005).
NHTW có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định các chính sách tiền tệ quốc gia vì mọi hoạt động của NHTW đều ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống TCTD (như lượng tiền cung ứng ra thị trường, lãi suất, tỷ giá,.), qua đó ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế - xã hội. Vì thế, xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia là một hoạt động trọng tâm của NHTW. Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống các Tổ chức tín dụng NHTW không chỉ cung ứng dịch vụ cho các TCTD mà còn thực hiện vai trò quản lý nhà nước thông qua hoạt động TTGS, nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền Thứ nhất: Bảo đảm sự ổn định của hệ thống các TCTD: Do hoạt động của hệ thống TCTD liên quan đến hầu hết các hoạt động của nền kinh tế nên bất kỳ sự mất ổn định nào của ngành ngân hàng cũng tác động tiêu cực lên kinh tế của đất nước. Do vậy, việc NHTW thực hiện quản lý và kiểm soát hoạt động của các TCTD là cần thiết để đảm bảo sự hoạt động của hệ thống luôn duy trì trong khuôn khổ pháp luật và góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ đã được hoạch định.
NHTW thực hiện quản lý các TCTD thông qua các công cụ như: cấp, thu hồi giấy phép hoạt động; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng. Thứ hai: bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền: Việc thực hiện thanh tra, giám sát các TCTD còn nhằm mục đích bảo đảm công bằng, bình đẳng trong quan hệ của khách hàng với TCTD, thể hiện qua 12 việc: Bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách hàng thông qua các quy định về lãi suất, thủ tục gửi tiền, vay vốn., quy định về giải quyết tranh chấp giữa ngân hàng và khách hàng; lành mạnh hóa sự cạnh tranh giữa các TCTD qua các quy định công khai, minh bạch thông tin. Chức năng của ngân hàng trung ương a. Ngân hàng phát hành tiền NHTW đuợc độc quyền phát hành tiền giấy và tiền kim khí duyệt (về mệnh giá, mức phát hành.) theo các qui định của pháp luật để bảo đảm thống nhất và an toàn cho hệ thống luu thông tiền tệ của quốc gia.
Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền luu thông hợp pháp duy nhất trong cả nuớc và không hạn chế thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định phát hành số luợng tiền bao nhiêu; thời điểm, phuơng thức phát hành hợp lý để đảm bảo ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế quốc gia. Duới chế độ bản vị vàng, NHTW đuợc yêu cầu phát hành tiền giấy trên cơ sở có vàng đảm bảo. Tuy nhiên, yêu cầu này dẫn đến sự thiếu linh hoạt trong phát hành tiền do khối luợng tiền phát hành không gắn với nhu cầu luu thông, trao đổi hàng hoá trên thị truờng mà phụ thuộc vào số luợng vàng dự trữ của NHTW.
Khi nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế vuợt quá khả năng đảm bảo bằng vàng dự trữ, các NHTW không thể đáp ứng đuợc. Do đó, yêu cầu đảm bảo bằng vàng dần dần bị hủy bỏ. Ngày nay, luợng tiền phát hành đuợc quyết định dựa trên cơ sở nghiên cứu về nhu cầu của nền kinh tế. Ngân hàng của các ngân hàng NHTW không tham gia kinh doanh tiền tệ trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các ngân hàng trung gian: Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian: Các ngân 13 hàng trung gian phải duy trì thường xuyên một lượng tiền gửi trên tài khoản tại NHTW.
Tiền gửi của ngân hàng bao gồm dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán. Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian: Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản tại NHTW nên họ có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Do vậy, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian. Thông qua đó, NHTW đã góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí thanh toán.
Mặt khác, NHTW có thể kiểm tra sự biến động vốn khả dụng của từng ngân hàng trung gian, là cơ sở để có những kiến nghị kịp thời khi có bất ổn xảy ra. Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian: NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung gian không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW. Ngoài ra, NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho sự an toàn của hệ thống các TCTD khi là "Người cho vay cuối cùng" đối với ngân hàng có nguy cơ phá sản.
Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng nhận được sự hỗ trợ này của NHTW. Chỉ khi sự sụp đổ của ngân hàng đó có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại và an toàn của cả hệ thống TCTD thì NHTW mới can thiệp. Ngân hàng của Chính phủ Là một định chế tài chính công cộng, NHTW đã được xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của chính phủ. Với chức năng này, NHTW có nghĩa vụ làm thủ quỹ cho Kho bạc Nhà nước, tạm ứng cho ngân sách quốc gia và đại lý, tư vấn chính sách cho Chính phủ.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm, đối tượng và mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng 1. Khái niệm thanh tra, giám sát ngân hàng * về thanh tra ngân hàng Theo tiếng Latinh, thanh tra có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng nhất định. Theo từ điển pháp luật Anh - Việt (1991), thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối tượng bị thanh tra”.
Theo từ điển tiếng Việt (2003), thanh tra là “đến tận nơi xem xét, kiểm tra sự việc nhằm đưa các hoạt động theo định hướng và theo các quy trình, quy phạm đã được xác định trên các văn bản nhà nước”.