CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG Lực THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC NHỜ THU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC NHỜ THU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm thanh toán quốc tế theo phương thức nhờ thu Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang ảnh hưởng sau sắc đến tất cả lĩnh vực đời sống xã hội của mỗi một quốc gia. Để tồn tại và phát triển, các quốc gia đều phải tăng cường mở cửa, hợp tác và hội nhập với các kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, công nghệ, ngoại giao. trong đó quan hệ kinh tế đóng vai trò chủ đạo. Sự xích lại gần nhau của các dân tộc trong quan hệ kinh tế quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế. “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa mọt quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.”[10, tr294] Từ khái niệm trên cho thấy, thanh toán quốc tế (TTQT) phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế.
Tuy nhiên trong thực tế, hai lĩnh vực này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt. Hơn nữa do hoạt động thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương nên người ta thường chia hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là thanh toán ngoại thương và thanh toán phi ngoại thương. Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, bên bán (nhà xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình 5 xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua (nhà nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.” [10, tr340] Bản chất của phương thức nhờ thu là quy trình thu hộ tiền từ người mua trả cho người bán. TTQT trong ngoại thương là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khấu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế.
Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là các hợp đồng ngoại thương. Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khấu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, mà đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và các nhân, các nguồn trợ cấp nước ngoài. Tóm lại, TTQT là nghiệp vụ phát sinh trên cở hoạt động thương mại quốc tế. Là sự vận dụng của các điều kiện bao gồm: điều kiện về tiền tệ, về địa điểm thanh toán, thời gian thanh toán và phương thức thanh toán.
Tuy nhiên nó là khâu có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả và sự phát triển hoạt động ngoại thương cũng như dịch vụ ngân hàng của quốc gia. TTQT chính là cơ sở nền tảng cho hoạt động xuất nhập khấu tồn tại và phát triển. Vai trò, đặc điểm của phương thức thanh toán nhờ thu 1. Vai trò của phương thức thanh toán nhờ thu a) Đối với nền kinh tế Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các quốc gia ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập thì TTQT nổi lên như chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước và kinh tế thế giới.
TTQT có tác dụng bôi trơn và thúc đấy hoạt động xuất nhập khấu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và có quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Ngày nay, hoạt động TTQT ngày càng có nhiều vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Thông qua hoạt động TTQT chúng ta mới thu được nguồn ngoại tệ để nhập khấu máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất và 6 tiêu dùng trong nước. Qua đó, có thể phát huy được tiềm năng của đất nước, đồng thời tận dụng vốn và công nghệ hiện đại hóa của các nước công nghiệp phát triển nhằm thúc đấy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Vì vậy, TTQT đang từng bước khẳng định được vai trò trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động đối ngoại nói riêng. TTQT là khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân, giữa các quốc gia khác nhau. TTQT đã liên kết các quốc gia lại với nhau, làm cho quan hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển. Sự tác động ngược lại của các quan hệ này thể hiện ở phát triển của hoạt động TTQT cả về lượng và chất.
Hoạt động TTQT nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ giải quyết được mói quan hệ lưu thông hàng hóa, tiền tệ một cách trôi chảy và hiệu quả. Như vậy, đối với nền kinh tế, hoạt động TTQT có những vai trò sau: Bôi trơn và thúc đấy hoạt động xuất nhập khấu của nền kinh tế; bôi trơn và thúc đấy đầu tư nước ngoài; thúc đấy và phát triển hoạt động dịch vụ; tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác; thúc đấy thị trường tài chính hội nhập quốc tế. b) Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Đối với Ngân hàng thương mại (NHTM), TTQT không chỉ là nghiệp vụ không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác như: huy động vốn ngoại tệ, đấy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khấu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương. cùng phát triển.
Hơn nữa trong thời kỳ hội nhập, hoạt động TTQT trở nên rất quan trọng đối với NHTM, nó đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng và là một mắt xích quan trọng để thúc đấy hoạt động kinh doanh của NHTM. Ngoài ra, do nghiệp vụ ngân hàng quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, thuận tiện, an toàn và hiệu quả. Vì vậy hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng có nhu cầu giao dịch kinh doanh quốc tế, nâng cao uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. 7 c) Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Hoạt động TTQT còn có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khấu.
Vì việc mua bán với các bạn hàng ở các nước khác nhau, có vị trí khác nhau nên việc tìm hiểu bạn hàng là hạn chế. Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin ngày càng phát triển tạo cơ hội cho các kẻ xấu lừa đảo. Vì vậy, rủi ro đối với các doanh nghiệp trong việc thực hiện các hợp đồng xuất nhập khấu ngày càng tăng. Do đó, TTQT được thực hiện qua ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế thông qua việc ngân hàng tư vấn, hướng dẫn cho các doanh nghiệp, từ đó thúc đấy hoạt động xuất nhập khấu phát triển và tọa ra lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp.
Như vậy, trong xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì hoạt động TTQT có vai trò quan trọng không chỉ đối với nền kinh tế nói chung mà còn có ý nghĩa đối với NHTM và các doanh nghiệp xuất nhập khấu. TTQT là điều kiện để hoạt động ngoại thương cũng như nền kinh tế của một quốc gia phát triển mạnh mẽ. Đặc điểm của phương thức thanh toán nhờ thu Thanh toán bằng phương thức nhờ thu sẽ giảm thiểu một phần rủi ro cho nhà xuất khấu vì chứng từ chỉ được giao cho người nhập khấu khi người nhập khấu thanh toán tiền hàng hoặc đã ký chấp nhận hối phiếu (đối với nhờ thu chứng từ). Tuy nhiên thanh toán theo phương này người bán/xuất khấu vẫn phải chịu rủi ro trong trường hợp người mua/nhập khấu không chấp nhận chứng từ hoặc từ chối thanh toán hối phiếu khi đáo hạn.
Các loại nhờ thu Phân loại Nhờ thu phụ thuộc vào tính chất chứng từ mà người mua yêu cầu làm căn cứ trả tiền. Căn cứ vào tính chất chứng từ, nhờ thu bao gồm hai loại: Nhờ thu trơn và Nhờ thu kèm chứng từ. Nhờ thu phiếu trơn: Bộ chứng từ Nhờ thu chỉ gồm Hối phiếu và yêu cầu nhờ thu của Ngân hàng của người xuất khấu. 8 Nhờ thu kèm chứng từ: Bộ chứng từ Nhờ thu ngoài Hối phiếu, yêu cầu nhờ thu của Ngân hàng còn có bộ chứng từ gửi hàng.
Khi đó người nhập khấu nếu muốn nhận chứng từ thì sẽ phải thanh toán (D/P) hoặc ký chấp nhận hối phiếu (D/A). Phương thức nhờ thu trơn (Clean Collection): a) Khái niệm: “Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng từ thương mại được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu không thông qua ngân hàng.Trong đó: Chứng từ tài chính: Séc, hối phiếu, kỳ phiếu Chứng từ thương mại: Hóa đơn, chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm, bảng kê đóng gói, giấy chứng nhận xuất xứ”. [10, tr346] b) Quy trình nghiệp vụ Quy trình nghiệp vụ nhờ thu hối phiếu trơn được khái quát qua sơ đồ 1.1: Quy trình nhờ thu phiếu trơn Chú giải: (1) Trên cơ sở hợp đồng thương mại, nhà xuất khấu giao hàng và gửi trực tiếp bộ chứng từ thương mại cho nhà nhập khấu (người trả tiền). (2) Nhà xuất khấu lập hối phiếu và đơn yêu cầu nhờ thu gửi tới ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng chuyển chứng từ nhờ thu) để nhờ thu tiền từ nhà nhập khấu.
9 (4) Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu cho nhà nhập khấu để nhà nhập khấu thực hiện nghĩa vụ thanh toán.