Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Một số vấn đề chung về động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực Hiện nay có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về động lực. Từ góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có khả năng khơi dậy tính tích cực lao động của con người.
Từ góc độ quản trị thì động lực chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Theo quan điểm của Maier và Lawler (1973) thì “động lực là sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân”. Theo nhà nghiên cứu Kreitner (1995) thì “động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định”. Theo từ điển Tâm lý học “động lực là cách thúc đẩy hành động gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó”.
32] Theo giáo trình Hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn- TS Phạm Thúy Hương, NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2009): “động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. 85] 13 Như vậy, các quan điểm, khái niệm của các tác giả nghiên cứu về động lực và động lực lao động thì khái niệm động lực bao gồm những khía cạnh sau: (1) Động lực là sự khát khao và tự nguyện làm việc; (2) Động lực là một quá trình tâm lý; (3) Động lực là sự cố gắng để đạt mục tiêu và thỏa mãn nhu cầu; (4) Động lực lao động là việc tự nguyện, khát khao làm công việc mà công việc đó giúp người lao động đạt mục tiêu cá nhân. Từ những phân tích, luận giải trên, động lực được hiểu: động lực là sự thúc đẩy tất cả các hành động của con người nhằm đạt được mục tiêu gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và định hướng cho hành động của chủ thể theo hướng tích cực nhất.
Khái niệm về động lực làm việc Qua phân tích về động lực ở trên ta có thể thấy, động lực làm việc xuất phát từ sự tự nguyện, khát khao làm việc của người lao động, giúp họ phát huy được thế mạnh, vượt qua những khó khăn, thách thức để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Theo quan điểm của Frederick Herzberg (1959) về động lực làm việc trong tác phẩm “The Motivation to work” “động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân -Ths. Nguyễn Vân Điềm, NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2007): “động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.
128] Động lực làm việc không phải là hiệu quả công việc mà động lực làm việc chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố quyết định đến hiệu quả công việc. Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá 14 nhân, nó có thể thay đổi thường xuyên và phụ thuộc vào yếu tố khách quan trong công việc. Động lực làm việc mang tính tự nguyện, phụ thuộc chính bản thân người lao động, họ thường chủ động làm việc hăng say khi họ không bị ảnh hưởng bởi sức ép hay một áp lực nào đó khi thực hiện công việc. Khi được làm việc một cách chủ động và tự nguyện thì kết quả công việc của họ đạt hiệu quả rất cao.
Từ những quan niệm và phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về động lực làm việc như sau: Động lực làm việc là sự khát khao, tự nguyện làm việc của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Khái niệm tạo động lực làm việc Từ khái niệm về động lực làm việc, khái niệm tạo động lực làm việc được xác định bởi tạo động lực chính là mục tiêu nhằm tạo ra động lực. Dưới góc độ quản lý nhân sự, tạo động lực làm việc được hiểu là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực để làm việc. Hay nói cách khác, đó là việc áp dụng các cách thức quản lý để tác động tới người lao động làm cho người lao động có động lực trong công việc.
Theo giáo trình Hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn - TS Phạm Thúy Hương, NXB ĐH Kinh tế quốc dân (2009): “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc”. 87] Như vậy, khái niệm tạo động lực làm việc được hiểu như sau: Tạo động lực làm việc là sự vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động đến người lao động làm cho người lao động có động lực làm việc. Các học thuyết về tạo động lực làm việc Qua việc nghiên cứu một số giáo trình Quản trị nhân lực có nội dung về tạo động lực làm việc cho người lao động, tài liệu học tập và kiến thức tiếp thu được tại học phần Lịch sử các học thuyết quản lý, tác giả nhận thấy có rất nhiều học thuyết có nội dung về tạo động lực làm việc, các học thuyết tạo động lực làm việc cho người lao động rất đa dạng và phong phú, trong đó tiêu biểu là các học thuyết: học thuyết về tháp nhu cầu của Maslow, học thuyết kỳ vọng của Vroom, học thuyết công bằng của John Stacy Adams, học thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg, cụ thể: 1. Học thuyết về tháp nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow là một nhà tâm lý học người Mỹ, đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950, là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc xác định các nhu cầu tự nhiên của con người.
Maslow cho rằng, người lao động có năm nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao, phản ánh mức độ tồn tại của con người trong tổ chức, được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao. Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Sơ đồ 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow 16 Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố sinh lý để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi…. Đây là nhu cầu cơ bản nhất, không thể thiếu vì nếu con người không được đáp ứng những nhu cầu này thì họ không thể tồn tại được. Nhu cầu bậc cao bao gồm các yếu tố tinh thần như sự tôn trọng, vui vẻ, công bằng….Các nhu cầu cơ bản được ưu tiên trước so với nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như thức ăn, nước uống, nhà ở, mặc, ngủ… Cơ thể con người cần có những nhu cầu này để tồn tại. Trong tháp nhu cầu, nhu cầu sinh lý được xếp ở bậc thấp nhất, cơ bản nhất. Nhu cầu an toàn: An toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm. Con người luôn mong muốn sự sống của mình được bảo vệ an toàn.
Nhu cầu này thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống. Nhu cầu xã hội: Nhu cầu này được thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm, làm việc nhóm…Nhu cầu này rất cần thiết một khi các nhu cầu sinh lý và an toàn đã được đáp ứng. Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng, nhu cầu được người khác công nhận và tôn trọng, tôn trọng trong thái độ ứng xử, trong giao tiếp, tôn trọng trong công việc. Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để làm việc và đạt được kết quả cao, có ý nghĩa trong xã hội.
Như vậy để có kỹ năng khuyến khích và động viên nhân viên, nhà lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan, tổ chức cần nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể nhu cầu của nhân viên và có biện pháp hữu hiệu để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhà lãnh đạo, quản lý cần biết “chiều” nhân viên một cách hợp lý và có dụng ý. Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Victor Vroom là một nhà tâm lý học hành vi, Ông từng tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ tại Đại học Mai Kim (Canada) và bảo vệ thành công học vị tiến sĩ tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ). Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom đưa ra là một lý thuyết rất quan trọng trong lý thuyết tạo động cơ làm việc trong tổ chức, bổ sung cho lý thuyết về tháp nhu cầu của Abraham Maslow.
Học thuyết kỳ vọng chỉ ra rằng, các cá nhân sẽ có động lực lao động nếu họ tin vào: mối quan hệ xác thực giữa các cố gắng và thành tích đạt được; thành tích nhận được của người lao động sẽ mang lại cho họ phần thưởng xứng đáng; phần thưởng mà người lao động nhận được sẽ làm thỏa mãn những nhu cầu quan trọng của họ; sự mong muốn thỏa mãn các nhu cầu đủ mạnh để người lao động có những cố gắng cần thiết.