Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam và giữ vai trò hạt nhân trong việc duy trì ổn định kinh tế - xã hội. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), các DNNVV chiếm khoảng 25% tổng số lượng doanh nghiệp cả nước và đóng góp tạo ra gần 70% việc làm phi nông nghiệp trong năm 2011. Tuy nhiên, rào cản tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng luôn là bài toán nan giải đối với khu vực này. Giai đoạn 2008 - 2012 chứng kiến những biến động kinh tế vĩ mô phức tạp, khi lãi suất cho vay thương mại có thời điểm tăng vọt lên mức 25%/năm vào năm 2008 và duy trì quanh ngưỡng cao 16% - 17%/năm vào đầu năm 2012, đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình trạng đình trệ sản xuất.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng dành cho DNNVV tại các Ngân hàng Thương mại (NHTM) trên địa bàn TP.HCM. Luận văn nhận diện các điểm nghẽn cốt lõi trong quy trình cấp tín dụng, thẩm định rủi ro và huy động vốn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế TP.HCM trong khung thời gian từ năm 2008 đến ngày 30/06/2012.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc nhằm tối ưu hóa các chỉ số tài chính vi mô: nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới ngưỡng an toàn 2% theo chuẩn mực của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời duy trì tỷ suất sinh lời trên tổng dư nợ tín dụng DNNVV đạt trên 7,8% trong điều kiện thị trường nhiều thách thức.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết trung gian tài chính và lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory). Trong hoạt động cấp tín dụng cho DNNVV, hiện tượng thông tin bất cân xứng dẫn đến hai hệ quả rủi ro lớn là lựa chọn đối nghịch (Adverse Selection) trước khi cho vay và rủi ro đạo đức (Moral Hazard) sau khi giải ngân. Khung lý thuyết được cụ thể hóa thông qua Luật Các Tổ chức Tín dụng năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12) và tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP (chia thành siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa trên quy mô tổng nguồn vốn dưới 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc lao động bình quân năm dưới 10 người đến 300 người).

Hiệu quả tín dụng ngân hàng được xác định là một phạm trù kinh tế tổng hợp, kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố: mức độ an toàn vốn và khả năng sinh lời. Hệ thống 5 nhóm chỉ tiêu định lượng cốt lõi được áp dụng gồm:

  • Hiệu suất sử dụng vốn vay (tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng vốn huy động theo quy định trần an toàn 80% tại Thông tư số 13/2010/TT-NHNN).
  • Vòng quay vốn tín dụng (doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân).
  • Tỷ lệ nợ quá hạn (giới hạn tối đa 5% theo chuẩn Ngân hàng Nhà nước).
  • Tỷ lệ nợ xấu (tập hợp nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN với tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tương ứng từ 25%, 50% đến 100%; mục tiêu kiểm soát dưới 2% theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN).
  • Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trên tổng dư nợ cho vay DNNVV.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp của luận văn được thu thập minh bạch và tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh TP.HCM, Cục Thống kê TP.HCM, Viện Chiến lược Ngân hàng và báo cáo tài chính công khai của các NHTM trên địa bàn. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn diện mạng lưới các NHTM Nhà nước và NHTM Cổ phần đang hoạt động tại TP.HCM với tổng quy mô dư nợ đạt 779.000 tỷ đồng và tổng vốn huy động đạt 940.000 tỷ đồng tính đến ngày 30/06/2012.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất cho toàn bộ thị trường tiền tệ thành phố. Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, phân tích tỷ số tài chính và so sánh chuỗi thời gian (time-series comparative analysis) xuyên suốt giai đoạn 2008 đến giữa năm 2012. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm làm rõ tác động đa chiều của các biến số vĩ mô (như chỉ số lạm phát CPI biến động từ đỉnh điểm 18,65% năm 2008 xuống 2,1% vào tháng 06/2012) lên chất lượng tín dụng và khả năng sinh lời thực tế của hệ thống ngân hàng thương mại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô dư nợ tín dụng dành cho DNNVV tại TP.HCM duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục. Dư nợ cho vay tăng từ mức 187.090 tỷ đồng (chiếm 38,18% tổng dư nợ toàn địa bàn) năm 2008 lên 269.990 tỷ đồng năm 2010 và đạt 330.350 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 42,41% trong tổng dư nợ 779.000 tỷ đồng) vào ngày 30/06/2012. Điều này phản ánh nỗ lực chuyển dịch dòng vốn của các ngân hàng vào khu vực kinh tế tư nhân năng động.

Thứ hai, cơ cấu kỳ hạn tín dụng cho thấy sự mất cân đối rõ rệt. Dư nợ cho vay ngắn hạn luôn chiếm ưu thế vượt trội, tăng từ 110.200 tỷ đồng (2008) lên 182.150 tỷ đồng (chiếm 55,14% tổng dư nợ DNNVV) vào giữa năm 2012. Ngược lại, dư nợ trung và dài hạn tăng chậm hơn, đạt 148.200 tỷ đồng vào tháng 06/2012. Nguyên nhân do hơn 60% tiền gửi huy động của hệ thống NHTM là nguồn vốn ngắn hạn, buộc các ngân hàng phải hạn chế cho vay dài hạn để phòng ngừa rủi ro thanh khoản.

Thứ ba, hiệu suất sử dụng vốn của phân khúc DNNVV vượt xa mức an toàn thông thường. Tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động từ DNNVV tăng liên tục từ 166,15% (2008) lên 188,59% (2009), 191,19% (2011) và chạm mức 205,15% vào ngày 30/06/2012 (dư nợ 330.350 tỷ đồng so với số vốn huy động từ DNNVV là 161.030 tỷ đồng). Điều này chứng minh các NHTM phải sử dụng nguồn vốn điều chuyển từ các khu vực kinh tế khác để tài trợ cho DNNVV. Vòng quay vốn tín dụng biến động giảm nhẹ từ 1,25 vòng (2010) xuống 1,18 vòng (2012).

Thứ tư, chất lượng tín dụng chịu sức ép gia tăng rủi ro. Tỷ lệ nợ quá hạn của DNNVV tăng dần từ 4,06% (7.590 tỷ đồng) năm 2008 lên 4,87% (15.680 tỷ đồng) năm 2011 và chạm mức 4,99% (16.480 tỷ đồng) vào ngày 30/06/2012, tiệm cận ngưỡng trần 5% của Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ nợ xấu cũng tăng từ 1,27% (2.370 tỷ đồng) năm 2008 lên 1,99% (6.570 tỷ đồng) năm 2012. Dù vậy, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động tín dụng DNNVV trên dư nợ vẫn tăng trưởng khả quan từ 5,53% (10.340 tỷ đồng) năm 2008 lên 7,86% (25.980 tỷ đồng) vào tháng 06/2012.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nợ quá hạn và nợ xấu gia tăng bắt nguồn từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, tác động từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và áp lực lạm phát cao trong nước làm gia tăng chi phí nguyên vật liệu đầu vào, thu hẹp thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Về mặt chủ quan, sự thiếu minh bạch tài chính của DNNVV, việc thiếu báo cáo tài chính kiểm toán và thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn đã cản trở công tác thẩm định.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy các mối tương quan có thể được trực quan hóa rất rõ nét thông qua biểu đồ kết hợp hai trục tung (thể hiện quy mô tăng trưởng dư nợ gắn liền với xu hướng gia tăng nợ xấu) và bảng ma trận đối chiếu kỳ hạn huy động - cho vay. Khi đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, các mô hình thành công như chương trình bảo lãnh SBA của Mỹ, Quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ KODIT của Hàn Quốc, hay mô hình bao thanh toán trực tuyến NAFIN tại Mexico chứng minh rằng: việc phát triển các công cụ bảo lãnh và chiết khấu khoản phải thu là chìa khóa tháo gỡ điểm nghẽn thiếu tài sản bảo đảm, giúp các ngân hàng giảm thiểu áp lực nợ xấu khi mở rộng tín dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại TP.HCM, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Tái cấu trúc quy trình thẩm định và mở rộng sản phẩm tín dụng phi tài sản bảo đảm: Các NHTM cần chuyển đổi phương thức thẩm định truyền thống dựa trên tài sản sang thẩm định dòng tiền thực tế và phương án kinh doanh khả thi. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ bao thanh toán ngược (reverse factoring) và cho vay theo chuỗi cung ứng. Mục tiêu định lượng: Rút ngắn 30% thời gian xử lý hồ sơ vay, đưa tỷ lệ nợ xấu khối DNNVV về dưới 1,5% trong vòng 12 đến 18 tháng. Chủ thể thực hiện: Khối NHTM trên địa bàn.
  • Hoàn thiện chính sách lãi suất và tăng cường tái cấp vốn trung - dài hạn: Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục thực thi hiệu quả trần lãi suất cho vay từ 12% đến 14%/năm cho các lĩnh vực ưu tiên theo Chỉ thị số 02/CT-NHNN. Mở rộng hạn mức tái cấp vốn ưu đãi với kỳ hạn từ 1 đến 3 năm cho các NHTM có tỷ trọng cấp tín dụng DNNVV cao. Mục tiêu định lượng: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng DNNVV đạt từ 12% đến 15%/năm trong giai đoạn 2013 - 2015. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước và Chi nhánh TP.HCM.
  • Mở rộng quy mô và nâng cao hiệu lực của Quỹ Bảo lãnh Tín dụng: Ủy ban nhân dân TP.HCM phối hợp cùng Bộ Tài chính tăng cường nguồn vốn điều lệ cho Quỹ Bảo lãnh Tín dụng TP.HCM lên quy mô tối thiểu 500 đến 1.000 tỷ đồng. Thiết lập cơ chế bảo lãnh tín chấp linh hoạt, nâng tỷ lệ bảo lãnh lên tối đa 70% - 80% giá trị khoản vay cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Mục tiêu: Triển khai hoàn thiện cơ chế trong lộ trình 2 năm. Chủ thể thực hiện: UBND TP.HCM và các sở ban ngành liên quan.
  • Minh bạch hóa quản trị và chuẩn hóa báo cáo tài chính doanh nghiệp: Bản thân các DNNVV cần chủ động áp dụng chế độ kế toán chuẩn mực, thực hiện kiểm toán độc lập định kỳ và nâng cao năng lực lập dự toán ngân sách. Mục tiêu định lượng: Tăng tỷ lệ DNNVV đủ điều kiện tiếp cận vốn vay ngân hàng từ mức ước tính 30% lên trên 60% vào cuối năm 2014. Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Doanh nghiệp và cộng đồng DNNVV.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban điều hành và cán bộ quản lý tín dụng tại các NHTM: Sử dụng luận văn như cẩm nang phân tích chuyên sâu để nhận diện rủi ro tín dụng theo ngành nghề, xây dựng khung chấm điểm nội bộ phù hợp với đặc thù DNNVV và thiết kế các gói sản phẩm tài trợ thương mại chuyên biệt.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp và Giám đốc Tài chính (CFO) của DNNVV: Hiểu rõ quy trình xét duyệt hồ sơ, các tiêu chuẩn an toàn vốn của ngân hàng, từ đó chủ động cơ cấu lại tỷ lệ đòn bẩy tài chính và chuẩn bị hồ sơ vay vốn tối ưu nhằm tiếp cận các mức lãi suất ưu đãi dưới 14%/năm.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, UBND TP.HCM): Khai thác nguồn số liệu thực chứng giai đoạn 2008 - 2012 để đánh giá tác động của chính sách tiền tệ, từ đó hoàn thiện khung pháp lý về bảo lãnh tín dụng và điều tiết dòng vốn vào khu vực sản xuất.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo khung phân tích định lượng toàn diện gồm 5 chỉ tiêu đo lường hiệu quả tín dụng, phương pháp tiếp cận kinh tế vĩ mô kết hợp vi mô tại đô thị kinh tế lớn nhất cả nước.

Câu hỏi thường gặp

Hiệu suất sử dụng vốn tín dụng của DNNVV tại TP.HCM trong giai đoạn 2008 - 2012 biến động như thế nào?
Tỷ lệ tổng vốn cho vay trên tổng vốn huy động của DNNVV luôn ở mức rất cao, tăng từ 166,15% năm 2008 lên 205,15% vào ngày 30/06/2012. Thực tế này phản ánh tình trạng các NHTM phải sử dụng nguồn vốn huy động từ khu vực dân cư và các tổ chức kinh tế lớn khác để bù đắp sự thiếu hụt vốn, đáp ứng nhu cầu vay ngày càng lớn của khối DNNVV.

Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của DNNVV tại TP.HCM giai đoạn này có vượt trần an toàn không?
Nợ quá hạn của DNNVV tăng từ 4,06% (7.590 tỷ đồng) năm 2008 lên 4,99% (16.480 tỷ đồng) vào tháng 06/2012, tiệm cận ngưỡng trần kiểm soát 5% của Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ nợ xấu cũng tăng từ 1,27% (2.370 tỷ đồng) lên 1,99% (6.570 tỷ đồng). Dù nợ xấu vẫn nằm trong giới hạn cho phép dưới 2% theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN, đây là mức cảnh báo rủi ro cao.

Rào cản lớn nhất khiến các NHTM dè dặt cấp tín dụng trung và dài hạn cho DNNVV là gì?
Rào cản chính là áp lực mất cân đối kỳ hạn khi hơn 60% tiền gửi tại các NHTM là ngắn hạn, gây rủi ro thanh khoản nếu cho vay dài hạn. Hơn nữa, các DNNVV thường thiếu tài sản thế chấp có giá trị lớn và không có báo cáo tài chính kiểm toán tin cậy, khiến dư nợ trung và dài hạn chỉ đạt 148.200 tỷ đồng vào tháng 06/2012.

Kinh nghiệm quốc tế nào được luận văn đề xuất để giải quyết tình trạng thiếu tài sản thế chấp?
Luận văn khuyến nghị mô hình bao thanh toán ngược trực tuyến NAFIN của Mexico và Quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ KODIT của Hàn Quốc. Các mô hình này cho phép doanh nghiệp nhỏ dùng các khoản phải thu từ khách hàng uy tín làm căn cứ cấp vốn hoặc nhận bảo lãnh từ cơ quan chính phủ mà không bắt buộc phải có bất động sản bảo đảm.

Chính sách điều hành trần lãi suất năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước đã tác động thế nào đến DNNVV?
Chính sách áp trần lãi suất cho vay từ 12% đến 15%/năm đối với các lĩnh vực ưu tiên theo Chỉ thị số 02/CT-NHNN đã giúp hạ nhiệt áp lực chi phí tài chính cho doanh nghiệp sau thời kỳ lãi suất tăng vọt trên 20%/năm. Nhờ đó, dư nợ tín dụng DNNVV tại TP.HCM duy trì được đà tăng trưởng, đạt 330.350 tỷ đồng tính đến ngày 30/06/2012.

Kết luận

  • Dư nợ tín dụng DNNVV tại TP.HCM tăng trưởng bền bỉ từ 187.090 tỷ đồng năm 2008 lên 330.350 tỷ đồng vào ngày 30/06/2012, nâng tỷ trọng chiếm 42,41% tổng dư nợ toàn thành phố.
  • Hiệu suất sử dụng vốn ở mức cao kỷ lục 205,15%, khẳng định khối DNNVV là động lực hấp thụ vốn chủ lực nhưng đặt ra yêu cầu tái cân đối nguồn vốn ngắn hạn và trung hạn.
  • Tỷ lệ nợ quá hạn (4,99%) và nợ xấu (1,99%) tiệm cận ngưỡng an toàn, phản ánh rõ nét sức ép từ môi trường kinh tế vĩ mô và hạn chế quản trị nội tại của doanh nghiệp.
  • Thiết lập hệ thống đánh giá khoa học dựa trên 5 chỉ tiêu tài chính định lượng kết hợp kinh nghiệm quốc tế thực tiễn từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mexico.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn kết chặt chẽ giữa cải cách thủ tục tại NHTM, chính sách hỗ trợ của NHNN, quỹ bảo lãnh của chính quyền thành phố và nỗ lực chuẩn hóa của DNNVV.

Luận văn đã đóng góp một công trình nghiên cứu hệ thống, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc cho bài toán nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với DNNVV. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2013 đến 2015, các NHTM và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp hành động, đẩy mạnh áp dụng chuẩn mực kế toán minh bạch và nhân rộng mô hình bảo lãnh tín chấp để tạo nền tảng phát triển kinh tế bền vững.