CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HỢP ĐỒNG ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 1. Khái quát về xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng đấu giá tài sản 1. Khái niệm đấu giá tài sản Trên thế giới, đấu giá không còn là một khái niệm mới, nó đã hình thành từ các nền văn minh thời cổ đại.
Những người Babylon đã đấu giá những người vợ; những người Hy Lạp cổ đại đã đấu giá việc nhượng quyền khai thác mỏ; giới quý tốc cổ đại còn có những cuộc đấu giá nô lệ; người La Mã thì đấu giá tất cả mọi thứ từ các chiến lợi phẩm từ các cuộc chiến tranh cho tới tài sản của các con nợ… Trong thế giới hiện đại, các cuộc đấu giá thường được tiến hành đối với một số lượng lớn về giao dịch trong kinh tế và dân sự. Chính phủ các nước sử dụng việc đấu giá để trái phiếu kho bạc, các quyền khai thác khoáng sản, dầu mỏ, tài nguyên, những công ty được tư nhân hóa và những tài sản khác. Nhà cửa, xe cộ, các tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ và nhiều loại tài sản khác của tư nhân và của các tổ chức thường được giá tăng lên một cách nhanh chóng thông qua hình thức thương mại điện tử. Có thể thấy rằng, đấu giá tài sản đã có từ rất lâu đời và liên tục phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới.
Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, đấu giá có nhiều thay đổi về hinh thức, phương thức tổ chức nhưng về bản chất vẫn không thay đổi. đấu giá của bất kỳ thời kỳ nào cũng luôn là một cuộc mua được tổ chức bằng việc trả giá công khai, cạnh tranh bình đẳng và cuối cùng, việc mua được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng. Khái niệm hợp đồng đấu giá tài sản Đối với việc đấu giá tài sản, theo Điều 4 Luật Đấu giá tài sản năm 2016, tài sản mà pháp luật quy định phải thông qua đấu giá, bao gồm: Tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản được xác lập 7 quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật; tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm; tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản kê biên để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tài sản là hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia; tài sản cố định của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản; tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật về tần số vô tuyến điện; tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật; tài sản khác mà pháp luật quy định phải thông qua đấu giá. Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức nếu tự nguyện lựa chọn thông qua đấu giá, thì cũng có thể được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Đấu giá tài sản.
Theo quy định của pháp luật, người có tài sản đấu giá phải ký kết hợp đồng đấu giá tài sản với tổ chức có chức năng đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá tài sản. Hợp đồng đấu giá tài sản phải được lập thành văn bản, được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định của Luật Đấu giá tài sản. Theo quy định của Điều 33 Luật Đấu giá tài sản năm 2016, "hợp đồng đấu giá tài sản" còn được gọi là "hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản". Từ các phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm: "Hợp đồng đấu giá tài sản là hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản 8 đấu giá hoặc người đại diện của người đó để thực hiện việc đấu giá tài sản theo trình tự và thủ tục mà pháp luật đã quy định".
Đặc điểm của hợp đồng đấu giá tài sản - Chủ thể tham gia ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản là người có tài sản đấu giá ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá tài sản. - Hình thức hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sảnphải được lập thành văn bản, được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định của Luật Đấu giá tài sản. - Trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản: Khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá có trách nhiệm cung cấp cho tổ chức đấu giá tài sản bằng chứng chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc quyền được tài sản theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bằng chứng đó. Tổ chức đấu giá tài sản không chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng của tài sản đấu giá, trừ trường hợp tổ chức đấu giá tài sản không thông báo đầy đủ, chính xác cho người tham gia đấu giá những thông tin cần thiết có liên quan đến giá trị, chất lượng của tài sản đấu giá theo hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản.
- Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá được thực hiện theo hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, quy định của Luật Đấu giá tài sản, quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan. - Người có tài sản đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản khi có một trong các căn cứ sau đây: + Tổ chức không có chức năng hoạt động đấu giá tài sản mà tiến hành cuộc đấu giá hoặc cá nhân không phải là đấu giá viên mà điều hành cuộc đấu giá, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện; + Tổ chức đấu giá tài sản cố tình cho phép người không đủ điều kiện tham gia đấu giá theo quy định của pháp luật tham gia đấu giá và trúng đấu giá; 9 + Tổ chức đấu giá tài sản có một trong các hành vi: Không thực hiện việc niêm yết đấu giá tài sản; không thông báo công khai việc đấu giá tài sản; thực hiện không đúng quy định về hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, tổ chức đăng ký tham gia đấu giá; cản trở, hạn chế người tham gia đấu giá đăng ký tham gia đấu giá; + Tổ chức đấu giá tài sản thông đồng, móc nối với người tham gia đấu giá trong quá trình tổ chức đấu giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá hoặc hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản; + Tổ chức đấu giá tài sản tổ chức cuộc đấu giá không đúng quy định về hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo Quy chế cuộc đấu giá dẫn đến làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là trách nhiệm hình thành từ việc không thực hiện một nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và hành vi vi phạm cũng chính là việc không thực hiện các nghĩa vụ. Người không thực hiện,thực hiện không đúng hay không đầy đủ một phần hoặc toàn bộ những cam kết trong hợp đồng mà gây thiệt hại cho người cùng giao kết, được coi là có hành vi vi phạm hợp đồng.
Nhưng không phải bất cứ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng không đầy đủ hợp đồng bao giờ cũng là cơ sở của trách nhiệm hợp đồng. Là một dạng trách nhiệm pháp lý nói chung nên trách nhiệm hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng và khi hành vi vi phạm hợp đồng đó là trái luật. Ngoài những nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thì còn những nghĩa vụ mặc dù các bên không thỏa thuận nhưng pháp luật có quy định thì các bên cũng phải thực hiện theo, nếu các bên không tuân thủ các quy định đó cũng coi là hành vi vi phạm hợp đồng. Vì vậy, khi xem xét một hành vi vi phạm hợp đồng hay không, cần phải căn cứ vào nội dung của hợp đồng và các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong trường hợp mà việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng không bị coi là trái pháp luật thì không làm phát sinh trách nhiệm hợp đồng của người có nghĩa vụ đối với người có quyền, ví dụ trường hợp hợp đồng không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người có 10 quyền hoặc do sự kiện bất khả kháng. Việc hành động bị coi là bất hợp pháp, vi phạm các điều khoản của hợp đồng khi bên có nghĩa vụ trong hợp đồng thực hiện điều cấm của pháp luật, vi phạm điều khoản thỏa thuận của các bên, trái với tập quán hoặc trái với bản chất của nghĩa vụ. Biểu hiện thứ hai của hình thức vi phạm hợp đồng là không hành động, không hành động ở đây được hiểu là hành vi không thực hiện các điều khoản trong hợp đồng, trong khi đó theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bên có nghĩa vụ cần phải làm điều đó nhưng đã không làm.