Chương 1: Thương mại điện tử và sự cần thiết của việc phát triển thương mại điện tử ở nước ta; Chương 2: Những yêu cầu pháp lý đối với thương mại điện tử và thực trạng của pháp luật nước ta về thương mại điện tử; Chương 3: Giải pháp xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật nhằm phát triển thương mại điện tử ở nước ta. 8 z Chƣơng 1 THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở NƢỚC TA 1. Một số vấn đề cơ bản về thương mại điện tử 1. Khái niệm thương mại điện tử Thương mại điện tử được sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau như “thương mại trực tuyến” (Online - Trade), “kinh doanh điện tử” (Electronic Business), nhưng phổ biến nhất vẫn là “thương mại điện tử” (Electronic Commerce viết tắt là e - commerce).
Không chỉ tồn tại nhiều tên gọi khác nhau, mà bản thân khái niệm thương mại điện tử cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra khái niệm thương mại điện tử theo cách hiểu riêng của họ, song tựu trung lại có hai cách tiếp cận cơ bản là hiểu thương mại điện tử theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Hiểu thương mại điện tử theo nghĩa rộng có hai đại diện tiêu biểu là Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật thương mại Quốc tế (UNCITRAL) và Ủy ban Châu Âu. Theo Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) thì phạm vi điều chỉnh của Luật này là mọi loại thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại.
Và thông điệp dữ liệu được hiểu là “thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự, và bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc FAX”5. Uỷ ban Châu Âu lại đưa ra định nghĩa về Thương mại điện tử như sau: Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới 5 Điều 1, 2 Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử. 9 z dạng text, âm thanh và hình ảnh.
Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng. Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hoá (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo). Như vậy, tuy mỗi tổ chức trên định nghĩa về thương mại điện tử theo những cách khác nhau song điểm chung giữa hai định nghĩa này là thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa rộng. Nó được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử; chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Bên cạnh cách hiểu thương mại điện tử theo nghĩa rộng, một số tổ chức lại hiểu thương mại điện tử theo nghĩa hẹp, bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet. Các tổ chức như: Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) đưa ra các khái niệm về thương mại điện tử theo hướng này. Thương mại điện tử được nói đến ở đây là hình thức mua bán hàng hoá được bày tại các trang Web trên Internet với phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả 10 z các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet 6.
Khái niệm về Thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc (OECD) đưa ra là: Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet. Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng ở nghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại mà chủ yếu là mua bán hàng hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục năm nay và đạt tới doanh số hàng tỷ USD mỗi ngày. Theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử mới chỉ tồn tại hơn 4 năm nhưng đã đạt được những kết quả rất đáng quan tâm.
Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ “thương mại điện tử”7. Ở Việt Nam, một số học giả và cán bộ quản lý đã đưa ra các khái niệm về thương mại điện tử. Tại Hội thảo về thương mại điện tử quốc tế và các chính sách cơ sở hạ tầng thông tin được tổ chức vào tháng 11 năm 2002 tại Hà Nội tác giả Nguyễn Hữu Anh cho rằng: “thương mại điện tử là hình thái sử dụng các phương tiện và phương pháp điện tử để thực hiện các hoạt động thương mại không cần đến giấy tờ tại bất kỳ công đoạn nào của quá trình giao dịch (còn gọi là thương mại không giấy tờ). 6 Xem “Thương mại điện tử và vai trò của WTO” của Marc Bacchetta, Patrick Low, Aa ditya Mattoo, Ludger Schuknecht, Hannu Wager và Madelon Wehrens, Tr.
1 7 Xem: TS Mai Hồng Quỳ - Một số vấn đề pháp lý của thương mai điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 năm 2000. 11 z Còn theo TS Mai Anh thì “thương mại điện tử bao gồm mọi giao dịch được thực hiện nhờ công nghệ số, nhất là việc dùng Internet, dùng các mạng riêng để trao đổi thông tin (EDI) và thẻ tín dụng”. Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 9/6/2006 về thương mại điện tử không đưa ra định nghĩa cụ thể về thương mại điện tử. Tuy nhiên, tại dự thảo Nghị định về thương mại điện tử (tài liệu kèm theo dự án Luật giao dịch điện tử trình Quốc hội xem xét, thông qua) thì khái niệm thương mại điện tử được hiểu là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại sử dụng thông điệp dữ liệu.
Như vậy, thương mại điện tử là một khái niệm phức tạp mà mỗi tổ chức và cá nhân hiểu và định nghĩa nó theo những cách khác nhau. Trên thế giới hiện nay cũng chưa có một cách hiểu thống nhất về thuật ngữ này. Theo quan niệm của chúng tôi, khái niệm thương mại điện tử có thể được hiểu bao gồm một số đặc trưng cơ bản sau: Một là, thương mại điện tử là hình thái sử dụng các phương tiện và phương pháp điện tử để thực hiện các hoạt động thương mại. Hai là, thương mại trong khái niệm thương mại điện tử cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát hầu như mọi hoạt động kinh tế, mà không chỉ bao gồm mua bán hàng hóa và dịch vụ.
Ba là, các phương tiện truyền thông điện tử bao gồm điện thoại, fax, vô tuyến truyền hình, hệ thống thanh toán điện tử, các mạng nội bộ và internet. Những đặc điểm của thương mại điện tử So với các hoạt động thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, các bên trong giao dịch thương mại điện tử không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải có quan hệ quen biết từ trước. Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ trực tiếp để tiến hành đàm 12 z phán, thỏa thuận và ký kết các hợp đồng. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyển tiền, séc hoá đơn, vận đơn, gửi báo cáo.
Việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống thường chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch. Từ khi xuất hiện mạng máy tính toàn cầu Internet thì việc trao đổi thông tin trong các hoạt động thương mại đa dạng đã mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới với số lượng người tham gia ngày càng tăng. Những người tham gia là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có thể đã biết hoặc hoàn toàn chưa biết nhau bao giờ. Thứ hai, thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới hay nói cách khác thương mại điện tử được thực hiện trên thị trường thống nhất toàn cầu.
Trong nền kinh tế số, thông tin được số hoá thành các byte, lưu giữ trong các máy tính và truyền qua mạng với tốc độ cao. Điều này tạo ra những khả năng hoàn toàn mới làm thay đổi thói quen tiêu dùng và mua bán của con người mà trong đó, người bán và người mua hàng có thể giao dịch với đối tác ở bất cứ đâu trên thế giới. Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia, từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu. Nếu như trong thương mại truyền thống, biên giới quốc gia có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thì trong thương mại điện tử khái niệm biên giới quốc gia không còn ý nghĩa quá lớn.
Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu và máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới. Không chỉ các công ty hàng đầu thế giới mới có thể tiếp cận những thị trường mới, mà ngay cả một công ty vừa mới khởi sự cũng có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biên giới thông qua website của mình.