Tổng quan nghiên cứu

Sự cố môi trường biển miền Trung xảy ra vào tháng 4 năm 2016 bắt nguồn từ việc xả thải công nghiệp tại khu liên hợp gang thép Vũng Áng đã làm hơn 70 tấn cá tự nhiên chết dạt bờ tại 4 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế. Riêng tại địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, khoảng 82 tấn thủy sản nuôi trồng bị chết hoàn toàn chỉ trong vòng 12 ngày từ ngày 06 đến ngày 18 tháng 4 năm 2016, gây ra tổng thiệt hại kinh tế trực tiếp ước tính lên tới 4,71 tỷ đồng. Cú sốc sinh thái này đã làm tê liệt toàn bộ chuỗi sinh kế truyền thống của cư dân ven bờ, từ khai thác bãi ngang, nuôi trồng hải sản cho đến chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá mức độ tổn thương của các nguồn lực sinh kế và phân tích quá trình tái thiết việc làm của các hộ ngư dân trong bối cảnh khủng hoảng.

Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuyển đổi sinh kế ven biển khi xảy ra sự cố môi trường; đánh giá thực trạng thay đổi các nguồn vốn và chiến lược sinh kế của 3 nhóm hộ dân cư điển hình; xác định các nhân tố ảnh hưởng; và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm tái thiết đời sống bền vững. Nghiên cứu được triển khai trên dải bờ biển dài hơn 63 km thuộc 7 xã ven biển và 1 xã cửa sông thuộc huyện Kỳ Anh, với khung thời gian theo dõi dữ liệu biến động từ năm 2014 đến năm 2016 và khảo sát thực địa từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để ổn định thu nhập cho hơn 52.518 hộ dân toàn huyện, đồng thời hỗ trợ mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 30,32% năm 2014 xuống dưới 26,73% trong giai đoạn tái thiết kinh tế - xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng kết hợp Khung sinh kế bền vững của Vụ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1998, 2001) và Khung sinh kế bền vững vùng ven biển do Tổ chức Nghiên cứu về Phát triển bền vững Vương quốc Anh (IMM) ban hành năm 2004. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp mô hình phân tích thay đổi sinh kế của Ian Scoones (1998) và Frank Ellis (2000) nhằm giải thích mối quan hệ tương tác giữa ba thành tố cốt lõi: tài sản sinh kế, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế dưới tác động trực tiếp của bối cảnh dễ bị tổn thương.

Nội dung lý thuyết tập trung làm rõ 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng: sinh kế nông hộ, sinh kế bền vững ven biển, sự cố môi trường biển theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, chiến lược sinh kế thích ứng, và 5 nguồn vốn sinh kế (nguồn lực con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội). Căn cứ theo lý thuyết của Chambers và Conway (1992), một sinh kế chỉ đạt chuẩn bền vững khi có khả năng chống chịu và phục hồi 100% trước các cú sốc ngoại cảnh mà không làm suy thoái nền tảng tài nguyên tự nhiên cho các thế hệ tương lai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô 180 hộ gia đình tại 8 xã ven biển và cửa sông chịu thiệt hại nặng nề nhất gồm Kỳ Xuân, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Ninh, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam và Kỳ Hà. Cỡ mẫu 180 hộ được phân chia đồng đều thành 3 nhóm đại diện: 60 hộ chuyên khai thác thủy sản, 60 hộ kết hợp thủy sản và nông nghiệp, 60 hộ kết hợp thủy sản và dịch vụ thương mại.

Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 từ niên giám thống kê huyện Kỳ Anh và số liệu sơ cấp thu thập thông qua phiếu điều tra bán cấu trúc, công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) cùng 15 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia (KII). Phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích so sánh trước - sau sự cố và phân tích ma trận tương quan. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ sụt giảm thu nhập, đo lường tốc độ hồi phục của từng nguồn vốn sinh kế và kiểm định mức độ thích ứng thực tế của từng nhóm hộ từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ sụt giảm thu nhập ngay sau sự cố môi trường diễn ra nghiêm trọng và có sự phân hóa lớn giữa các nhóm nghề. Nhóm hộ kết hợp thủy sản và dịch vụ chịu cú sốc nặng nề nhất khi mức thu nhập sau sự cố chỉ còn 15% so với giai đoạn trước tháng 4 năm 2016. Nhóm hộ chuyên thủy sản sụt giảm thu nhập xuống mức 21%, trong khi nhóm hộ kết hợp thủy sản và nông nghiệp duy trì được 40% thu nhập nhờ nguồn thu ổn định từ trồng trọt và chăn nuôi trên 15.370 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện.

Thứ hai, các chiến lược thích ứng sinh kế diễn ra đa dạng và linh hoạt theo năng lực của từng hộ. Đối với nhóm chuyên thủy sản, khoảng 65% lao động đã chủ động chuyển hướng sang đánh bắt xa bờ hoặc làm thuê trên tàu công suất lớn, 20% chuyển sang nuôi cá nước ngọt kết hợp lao động tự do, và 15% thanh niên tham gia các chương trình xuất khẩu lao động (EPS) tại Nhật Bản và Hàn Quốc.

Thứ ba, tốc độ phục hồi sinh kế ghi nhận sự đảo chiều rõ nét đến thời điểm tháng 5 năm 2017. Nhóm hộ kết hợp thủy sản và dịch vụ vươn lên dẫn đầu với tỷ lệ phục hồi thu nhập đạt mức 87% so với trước sự cố. Nhóm chuyên thủy sản đạt mức phục hồi 79%, trong khi nhóm kết hợp thủy sản và nông nghiệp có tốc độ hồi phục chậm nhất ở mức 74,8% do chịu tác động kép từ hạn hán và đất đai nhiễm mặn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính giúp nhóm hộ dịch vụ phục hồi nhanh chóng ở mức 87% là nhờ tính thanh khoản cao của nguồn vốn tài chính và khả năng chuyển đổi tức thì sang cung ứng hàng hóa cho các cụm công nghiệp tại Khu kinh tế Vũng Áng. Ngược lại, nhóm kết hợp nông nghiệp phục hồi chậm nhất ở mức 74,8% vì thiếu hụt hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh và chi phí đầu tư phân bón, cây giống phục hồi đất chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách gia đình.

Để minh họa trực quan xu hướng biến động, dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp thành bảng ma trận so sánh 5 nguồn vốn sinh kế theo thang đo Likert 5 điểm, kết hợp với biểu đồ cột chồng mô tả sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập qua 3 mốc thời gian: trước tháng 4 năm 2016, ngay sau khủng hoảng, và tháng 5 năm 2017. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với bài học từ thảm họa tràn dầu Deepwater Horizon năm 2010 tại Mỹ, nơi tập đoàn BP phải chi trả hơn 20 tỷ USD bồi thường và các cộng đồng ven biển mất hơn 5 năm để phục hồi 50% sinh kế tự nhiên. Điều này khẳng định quá trình phục hồi tại Kỳ Anh cần các giải pháp hỗ trợ kỹ thuật lâu dài chứ không thể chỉ dựa vào trợ cấp tiền mặt trước mắt.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi và chuỗi liên kết giá trị. Ngân hàng Chính sách Xã hội cùng Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Anh cần triển khai gói vay ưu đãi lãi suất 0% với quy mô 50 tỷ đồng trong giai đoạn 2018 - 2020, ưu tiên cho 1.200 hộ ngư dân tiếp cận vốn để đóng mới, nâng cấp tàu đánh bắt xa bờ trên 90CV hoặc phát triển vùng nuôi trồng thủy sản nước ngọt tập trung.

Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với phát triển xuất khẩu lao động. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh cần phối hợp cùng các trường nghề tổ chức 30 lớp tập huấn kỹ thuật miễn phí, phấn đấu đào tạo chuyển đổi nghề cho 2.500 lao động ven biển và tạo điều kiện đưa 800 lao động trẻ đi làm việc tại nước ngoài theo chương trình EPS trước năm 2021.

Thứ ba, nâng cao năng lực ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp sạch. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kỳ Anh chủ trì xây dựng 10 mô hình canh tác hữu cơ kết hợp nuôi cá nước ngọt với tổng diện tích 100 ha, đặt mục tiêu nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi hecta đất sản xuất thêm 25% mỗi năm.

Thứ tư, tăng cường quản lý tài nguyên và giám sát môi trường biển tự động. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh cần hoàn thành việc lắp đặt 5 trạm quan trắc tự động 24/7 xung quanh cảng Vũng Áng và vịnh Sơn Dương, đảm bảo kiểm soát 100% lưu lượng và chất lượng nước thải công nghiệp, ngăn chặn triệt để nguy cơ tái diễn ô nhiễm môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân các cấp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng các đề án an sinh xã hội, phân bổ nguồn kinh phí bồi thường và quy hoạch vùng nuôi trồng an toàn cho hơn 50.000 dân cư vùng biển.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên môi trường và Xã hội học. Bộ dữ liệu khảo sát 180 hộ cùng khung sinh kế IMM cải biên là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương và sinh kế thích ứng.

Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế như UNDP hay Ngân hàng Thế giới. Các tổ chức này có thể sử dụng kết quả đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế để thiết kế các dự án tài trợ phát triển bền vững trị giá từ 500.000 đến 2 triệu USD nhằm nâng cao năng lực chống chịu thiên tai cho 8 xã ven biển.

Nhóm thứ tư là các hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và chủ tàu cá ven biển. Tài liệu giúp các đơn vị này nhận diện các mô hình chuyển đổi nghề hiệu quả có tỷ lệ phục hồi thu nhập từ 79% đến 87%, từ đó định hướng đầu tư phương tiện đánh bắt xa bờ và thành lập chuỗi liên kết tiêu thụ thủy hải sản an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Sự cố môi trường biển năm 2016 đã gây thiệt hại kinh tế ban đầu như thế nào đối với huyện Kỳ Anh? Sự cố Formosa tháng 4 năm 2016 đã làm chết khoảng 82 tấn thủy sản nuôi trồng tại Kỳ Anh với giá trị thiệt hại trực tiếp ước tính 4,71 tỷ đồng. Toàn bộ hoạt động khai thác ven bờ của hơn 1.000 tàu thuyền nhỏ bị ngưng trệ hoàn toàn trong 6 tháng, khiến thu nhập của các hộ ngư dân sụt giảm từ 60% đến 85% so với năm 2015.

Nhóm hộ nào có tốc độ phục hồi thu nhập nhanh nhất sau sự cố và nguyên nhân từ đâu? Nhóm hộ kết hợp thủy sản và dịch vụ có tốc độ phục hồi nhanh nhất, đạt mức 87% vào tháng 5 năm 2017. Nguyên nhân là do nhóm này sở hữu nguồn vốn tài chính linh hoạt, nhanh chóng chuyển hướng sang kinh doanh thương mại và dịch vụ hậu cần phục vụ các dự án công nghiệp tại Khu kinh tế Vũng Áng.

Khung phân tích sinh kế nào được vận dụng chính yếu trong luận văn thạc sĩ này? Luận văn áp dụng Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM (2004) phát triển từ mô hình DFID, kết hợp lý thuyết phân tích thay đổi sinh kế của Scoones (1998) và Ellis (2000). Khung phân tích này giúp đánh giá biến động của 5 nguồn vốn sinh kế trên mẫu điều tra thực tế gồm 180 hộ gia đình.

Xuất khẩu lao động đóng vai trò ra sao trong việc giải quyết việc làm cho ngư dân Kỳ Anh? Xuất khẩu lao động là giải pháp đột phá giúp 15% lao động thuộc các hộ chuyên thủy sản chuyển đổi nghề thành công. Nguồn kiều hối gửi về bình quân từ 20 đến 35 triệu đồng mỗi tháng đã tạo nguồn tích lũy tài chính quan trọng, giúp các hộ gia đình nhanh chóng tái đầu tư cơ sở vật chất và ổn định đời sống.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có tính ứng dụng cao nhất cho công tác phục hồi sinh kế tại địa phương? Bài học bồi thường hơn 20 tỷ USD từ vụ tràn dầu BP năm 2010 tại Mỹ và mô hình cho vay quay vòng 500.000 baht mỗi làng của Thái Lan cho thấy Kỳ Anh cần kết hợp bồi thường minh bạch với thành lập quỹ tín dụng hỗ trợ sản xuất, đảm bảo 100% người dân có công cụ mưu sinh mới.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuyển đổi sinh kế ven biển khi xảy ra sự cố môi trường dựa trên khung phân tích chuẩn của IMM và DFID.
  • Lượng hóa chính xác mức độ sụt giảm thu nhập từ 60% đến 85% của 3 nhóm hộ dân cư sau thảm họa xả thải biển tháng 4 năm 2016.
  • Chứng minh tính phân hóa rõ rệt về khả năng hồi phục: nhóm dịch vụ đạt 87%, nhóm thủy sản đạt 79%, và nhóm nông nghiệp đạt 74,8%.
  • Xác định 4 nhóm nhân tố then chốt chi phối quá trình chuyển đổi sinh kế gồm thể chế chính sách, nguồn vốn tài chính, năng lực hộ và quan hệ xã hội.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược kèm lộ trình thực thi giai đoạn 2018 - 2021 nhằm ổn định sinh kế cho hơn 52.518 hộ dân trên địa bàn toàn huyện.

Luận văn đã đóng góp một hệ thống cứ liệu thực chứng sâu sắc và phương pháp tiếp cận khoa học trong việc giải quyết bài toán an sinh xã hội sau khủng hoảng môi trường biển. Trong giai đoạn 2018 - 2020, địa phương cần khẩn trương giải ngân gói hỗ trợ sản xuất 50 tỷ đồng và hoàn thiện mạng lưới giám sát môi trường. Kính mời các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và chính quyền địa phương cùng tham khảo luận văn để ứng dụng hiệu quả các mô hình sinh kế bền vững vào thực tiễn phát triển kinh tế biển.