Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam. Cả nước hiện có hơn 3.000 làng nghề thủ công, trong đó khoảng 40% có tuổi đời trên 100 năm và hơn 400 làng nghề truyền thống thuộc 53 nhóm nghề khác nhau. Tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nghề chế tác vàng bạc thủ công tại các làng nghề tiêu biểu như Châu Khê và Lương Ngọc thuộc xã Thúc Kháng đã hình thành, phát triển hàng trăm năm, trở thành trụ cột kinh tế phi nông nghiệp trọng điểm của địa phương.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế và sức ép từ thị trường tiêu thụ vàng trang sức nội địa ước đạt 3,5 tỷ USD với mức tăng trưởng 25%/năm, các làng nghề kim hoàn truyền thống tại Bình Giang đang đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp trang sức công nghệ cao. Mặt khác, phương thức sản xuất tại địa phương vẫn mang tính tự phát, quy mô hộ gia đình manh mún, thiếu mặt bằng sản xuất và thiếu hụt nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ. Nhận diện các điểm nghẽn này, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng phát triển làng nghề vàng bạc truyền thống huyện Bình Giang giai đoạn 2012–2014, phân tích các nhân tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ thúc đẩy làng nghề phát triển bền vững.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại các xã có nghề kim hoàn phát triển mạnh gồm Thúc Kháng, Thái Học, Hưng Thịnh, Tráng Liệt, Tân Việt và Vĩnh Tuy thuộc huyện Bình Giang trong khung thời gian từ năm 2012 đến năm 2014. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao mức thu nhập bình quân của thợ kim hoàn đạt từ 4 đến 7 triệu đồng/người/tháng, đồng thời đóng góp tích cực vào mức tăng trưởng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp toàn huyện từ 35.961 triệu đồng năm 2012 lên 44.182 triệu đồng năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tái sản xuất mở rộng của Kinh tế chính trị học làm nền tảng phân tích quá trình phát triển làng nghề theo hai phương thức: phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Phát triển theo chiều rộng thể hiện qua việc gia tăng các yếu tố đầu vào như số lượng cơ sở sản xuất, số lượng lao động tham gia, mở rộng phạm vi địa lý và hệ thống đại lý phân phối sản phẩm. Ngược lại, phát triển theo chiều sâu tập trung vào nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, gia tăng năng suất lao động thông qua ứng dụng máy móc công nghệ tiên tiến, đa dạng hóa mẫu mã và tối ưu hóa cơ cấu chi phí sản xuất.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết phát triển cụm công nghiệp nông thôn và thể chế phát triển làng nghề theo quy định tại Nghị định số 66/2006/NĐ-CP và Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Khung lý thuyết làm rõ 4 khái niệm trung tâm:

  1. Làng nghề: Địa bàn nông thôn diễn ra các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp tách biệt khỏi kinh tế thuần nông, tạo nguồn thu nhập chủ đạo cho cộng đồng dân cư.
  2. Làng nghề truyền thống: Làng nghề đạt tiêu chí tồn tại trên 50 năm, tạo ra các sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo gắn liền với tên tuổi nghệ nhân.
  3. Phát triển làng nghề: Quá trình bảo tồn giá trị văn hóa song hành với hiện đại hóa quy trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo giá trị gia tăng cao.
  4. Hiệu quả sản xuất kinh doanh: Chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra (tổng doanh thu, lợi nhuận) với toàn bộ chi phí nguồn lực đầu vào đã tiêu hao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, niên giám thống kê giai đoạn 2012–2014 của UBND huyện Bình Giang, Phòng Kinh tế & Hạ tầng huyện và UBND các xã Thúc Kháng, Thái Học, Hưng Thịnh.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua cuộc điều tra khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015 trên địa bàn huyện.

Cỡ mẫu điều tra bao gồm 95 đơn vị sản xuất kinh doanh được chọn lọc từ tổng thể 1.041 cơ sở làm vàng bạc trên toàn huyện Bình Giang. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng để bao quát đầy đủ các loại hình tổ chức sản xuất: 82 hộ gia đình cá thể (chiếm 86,32% tổng mẫu), 7 hợp tác xã (chiếm 7,37%) và 6 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 6,31%).

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối, cùng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế (doanh thu bình quân, chi phí sản xuất, lợi nhuận ròng, tỷ suất sinh lời trên vốn). Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm nhận diện rõ nét quy mô phân bố, đánh giá xu hướng chuyển dịch cơ cấu qua các năm và so sánh chính xác sự khác biệt về năng lực cạnh tranh giữa từng mô hình tổ chức kinh tế làng nghề.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, làng nghề vàng bạc Bình Giang có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô cơ sở và lực lượng lao động theo chiều rộng. Số hộ tham gia sản xuất vàng bạc trên toàn huyện tăng nhanh từ 748 hộ (chiếm 19,85% tổng số hộ) năm 2012 lên 967 hộ năm 2013 và đạt 1.041 hộ (chiếm 27,07%) vào năm 2014, tương ứng mức tăng trưởng bình quân 18,46%/năm. Cùng với đó, lực lượng lao động làm vàng bạc tăng từ 2.259 người (chiếm 35,34% tổng lao động) năm 2012 lên 3.105 người (chiếm 40,20%) năm 2014, đạt tốc độ tăng bình quân 11,01%/năm.

Thứ hai, mô hình tổ chức sản xuất còn mang nặng tính phân tán và tự phát. Cơ cấu tổ chức tại 95 đơn vị điều tra cho thấy loại hình hộ gia đình cá thể chiếm tỷ trọng áp đảo 86,32%, trong khi hợp tác xã chỉ chiếm 7,37% và doanh nghiệp chiếm 6,31%. Hầu hết các cơ sở sản xuất đều kết hợp không gian làm việc chung với không gian sinh hoạt gia đình; cá biệt có nhiều cơ sở diện tích mặt bằng bình quân chỉ đạt dưới 2 m2/lao động, gây cản trở lớn đến việc bố trí dây chuyền và lắp đặt máy móc gia công hiện đại.

Thứ ba, hiệu quả sản xuất kinh doanh có sự phân hóa sâu sắc theo quy mô tổ chức. Nhóm doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và năng suất lao động cao hơn từ 25% đến 38% so với các hộ cá thể. Điều này xuất phát từ việc các doanh nghiệp đã chủ động đầu tư máy đúc tự động, máy dập khuôn và mở rộng thị trường tiêu thụ ra các tỉnh lân cận thay vì chỉ phụ thuộc vào thị trường tại chỗ.

Thứ tư, nguồn vốn và cơ chế chuyển giao tay nghề đang là rào cản nghiêm trọng. Hơn 70% nguồn vốn sản xuất của các cơ sở là vốn tự có hoặc vay mượn người thân, tỷ lệ tiếp cận vốn vay tín dụng ngân hàng còn dưới 30%. Bên cạnh đó, phương thức truyền nghề chủ yếu vẫn là "cha truyền con nối", thiếu vắng các lớp đào tạo kỹ thuật kim hoàn bài bản, dẫn đến tình trạng thiếu hụt đội ngũ thợ trẻ kế cận có tay nghề tinh xảo khi thế hệ nghệ nhân cao tuổi ngày càng giảm sút.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng nhanh về số lượng hộ nghề và lao động kim hoàn đã khẳng định vị thế đầu tàu của làng nghề vàng bạc trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Bình Giang, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 47,20% năm 2012 xuống 44,85% năm 2014. Tổng giá trị sản xuất toàn huyện tăng đều qua các năm với mức tăng bình quân 2,6%/năm, trong đó ngành tiểu thủ công nghiệp đạt 44.182 triệu đồng vào năm 2014.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu loại hình sản xuất với 86,32% là hộ cá thể, kết hợp biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tốc độ tăng trưởng lao động làm vàng bạc (tăng 11,01%/năm) và xu hướng giảm của hộ thuần nông (giảm bình quân 4,85%/năm). Đồng thời, bảng tổng hợp hiệu quả kinh tế làm nổi bật sự vượt trội về doanh thu của khối doanh nghiệp so với các hộ gia đình nhỏ lẻ.

So sánh với kinh nghiệm phát triển làng nghề quốc tế như mô hình xí nghiệp hương trấn của Trung Quốc và chính sách hỗ trợ tín dụng thông qua Hiệp hội Nghề truyền thống Densankyouki của Nhật Bản, có thể thấy các cơ sở tại Bình Giang đang thiếu sự bảo trợ mạnh mẽ về tài chính và công nghệ. Ngoài ra, việc học tập kinh nghiệm quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề tập trung như tỉnh Quảng Bình hay gắn kết sản xuất với tour du lịch trải nghiệm như mô hình làng gốm Thanh Hà (Quảng Nam) sẽ là chìa khóa giải quyết dứt điểm điểm nghẽn về mặt bằng chật hẹp và mở rộng kênh tiêu thụ sản phẩm cho huyện Bình Giang.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy làng nghề vàng bạc truyền thống huyện Bình Giang phát triển bền vững và chuyển dịch mạnh mẽ theo chiều sâu, bốn nhóm giải pháp trọng tâm cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và mở rộng tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Bình Giang cần thiết lập gói tín dụng thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh tín chấp qua hội làng nghề. Mục tiêu nâng tỷ lệ cơ sở tiếp cận vốn ngân hàng lên trên 65% trong giai đoạn 2016–2018, với hạn mức vay linh hoạt từ 50 đến 300 triệu đồng/cơ sở nhằm hỗ trợ mua sắm máy móc chế tác hiện đại.

Thứ hai, quy hoạch và xây dựng cụm công nghiệp làng nghề tập trung. UBND huyện Bình Giang phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương triển khai giải phóng mặt bằng, bố trí quỹ đất từ 10 đến 15 ha tại xã Thúc Kháng và Thái Học trong giai đoạn 2016–2020. Mục tiêu di dời ít nhất 45% số hộ sản xuất quy mô vừa và lớn ra khỏi khu dân cư, nâng diện tích làm việc bình quân đạt trên 8 m2/lao động và trang bị hệ thống xử lý nước thải hóa chất chế tác đạt chuẩn 100%.

Thứ ba, chuẩn hóa công tác đào tạo nhân lực và tôn vinh nghệ nhân kim hoàn. Phòng Kinh tế & Hạ tầng huyện phối hợp với Hội đồng hương nghệ nhân tổ chức định kỳ 4–6 khóa bồi dưỡng kỹ thuật chế tác hàng năm từ năm 2016. Đặt mục tiêu đào tạo chuyên môn cho hơn 600 lao động trẻ, thực hiện chính sách trợ cấp hàng tháng từ 500.000 đến 1.000.000 đồng cho các nghệ nhân cao tuổi tham gia truyền nghề và đề nghị Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.

Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu tập thể. UBND huyện Bình Giang cùng Sở Công Thương tỉnh Hải Dương xúc tiến thành lập Hiệp hội Làng nghề Vàng bạc Bình Giang trong giai đoạn 2017–2019. Mục tiêu thiết lập cổng thông tin điện tử quảng bá xuất xứ, mở rộng thêm 25–30 đại lý tiêu thụ chính thức tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng và kết nối tuyến du lịch văn hóa làng nghề truyền thống.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo UBND huyện Bình Giang, Sở Công Thương và Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Hải Dương có thể sử dụng các số liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn, ban hành cơ chế cấp đất cụm làng nghề và thẩm định chính sách hỗ trợ vốn vay.

  2. Các chủ doanh nghiệp, ban quản trị hợp tác xã và hộ sản xuất kim hoàn: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về hiệu quả kinh tế giữa các mô hình sản xuất, giúp các chủ hộ định hướng chuyển đổi sang mô hình hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tư nhân, áp dụng máy móc kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất và tối ưu hóa chi phí.

  3. Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu phát triển làng nghề theo chiều rộng - chiều sâu, cung cấp bộ câu hỏi điều tra mẫu và khung phân tích số liệu thực tế tại vùng đồng bằng sông Hồng.

  4. Các hiệp hội ngành nghề và đơn vị lữ hành du lịch: Sử dụng tư liệu lịch sử, đặc trưng chế tác vàng bạc Châu Khê để xây dựng đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể kết hợp phát triển các tour du lịch trải nghiệm làng nghề truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát với quy mô mẫu bao nhiêu và tại các địa bàn nào? Đề tài tiến hành điều tra chọn mẫu 95 đơn vị sản xuất kinh doanh trong tổng số 1.041 cơ sở kim hoàn trên địa bàn huyện Bình Giang từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015. Mẫu khảo sát phân bổ tại 6 xã trọng điểm gồm Thúc Kháng, Thái Học, Hưng Thịnh, Tráng Liệt, Tân Việt và Vĩnh Tuy; bao gồm 82 hộ cá thể, 7 hợp tác xã và 6 doanh nghiệp.

Tốc độ tăng trưởng về số hộ và lao động làng nghề vàng bạc Bình Giang giai đoạn 2012–2014 ra sao? Giai đoạn 2012–2014 ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ theo chiều rộng: số hộ làm nghề tăng từ 748 hộ lên 1.041 hộ, đạt mức tăng trưởng bình quân 18,46%/năm. Số lượng lao động làm vàng bạc tăng tương ứng từ 2.259 người lên 3.105 người, tăng trưởng bình quân 11,01%/năm và chiếm 40,20% tổng lực lượng lao động toàn huyện vào năm 2014.

Hạn chế lớn nhất trong tổ chức sản xuất tại làng nghề vàng bạc Bình Giang là gì? Hạn chế lớn nhất là tính chất sản xuất manh mún với 86,32% cơ sở là hộ gia đình cá thể. Mặt bằng sản xuất chật hẹp khi nhiều nơi diện tích chỉ dưới 2 m2/lao động do kết hợp nơi ở với xưởng chế tác. Ngoài ra, hơn 70% cơ sở thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ và phương thức truyền nghề khép kín đang gây nguy cơ thiếu hụt thợ trẻ kế cận.

Doanh nghiệp và hợp tác xã có ưu thế vượt trội gì so với hộ gia đình cá thể? Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế chứng minh mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã đạt tỷ suất sinh lời trên doanh thu cao hơn từ 25% đến 38% so với hộ cá thể. Nguyên nhân nhờ quy mô vốn lớn, khả năng ứng dụng máy dập, máy đúc hiện đại và năng lực chủ động tiếp cận thị trường tiêu thụ rộng lớn ngoài tỉnh.

Kinh nghiệm quốc tế nào được rút ra để vận dụng phát triển làng nghề Bình Giang? Nghiên cứu chỉ ra bài học từ mô hình hỗ trợ tín dụng không cần thế chấp và cấp chứng nhận chất lượng của Nhật Bản, cùng chính sách thuế ưu đãi cho xí nghiệp nông thôn của Trung Quốc. Việc vận dụng các cơ chế này kết hợp quy hoạch cụm công nghiệp tập trung sẽ giúp Bình Giang tháo gỡ điểm nghẽn về vốn và mặt bằng sản xuất.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển làng nghề truyền thống theo hai mô hình phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu trong nền kinh tế thị trường.
  • Đánh giá thực trạng phát triển vượt bậc của 1.041 cơ sở kim hoàn tại Bình Giang giai đoạn 2012–2014, khẳng định vai trò trụ cột đưa giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 44.182 triệu đồng.
  • Nhận diện chính xác 4 rào cản nội tại kìm hãm làng nghề gồm: tổ chức sản xuất manh mún (86,32% hộ cá thể), mặt bằng chật hẹp dưới 2 m2/lao động, khó khăn nguồn vốn và thiếu hụt lực lượng thợ trẻ kế cận.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi bao gồm: mở rộng vốn tín dụng, quy hoạch cụm công nghiệp 10–15 ha, đào tạo chuẩn hóa nhân lực và đẩy mạnh xúc tiến thương hiệu vàng bạc Châu Khê.
  • Khẳng định phát triển làng nghề truyền thống là động lực cốt lõi thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập bền vững cho người dân địa phương.

Về lộ trình thực hiện, địa phương cần ưu tiên giải quyết bài toán vốn vay và quy hoạch mặt bằng cụm làng nghề trong giai đoạn 2016–2018; tiếp tục hoàn thiện công tác đào tạo thợ giỏi và xúc tiến thương mại du lịch trong giai đoạn 2018–2020. Các nhà quản lý, hiệp hội ngành nghề và các cơ sở sản xuất tại huyện Bình Giang cần nhanh chóng liên kết, hiện thực hóa các khuyến nghị trên nhằm bảo tồn tinh hoa di sản và nâng tầm vị thế thương hiệu vàng bạc truyền thống trên thị trường trong nước và quốc tế.