Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng nông. thôn mới tại huyện Thăng Bình, tinh Quảng Nam. Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong những năm qua, vấn đề quản lý nhà nước (QLNN) về xây dựng NTM cũng như vấn đề vốn xây dựng nông thôn luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và quản lý. Nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này đã được công bố; trong đó, có một số công trình tiêu biểu như sau: - Trương Thi Bích Huệ (2015), “Quản jý nguồn vốn cho công tác xây dựng NTM tại tỉnh Hà Tĩnh”, luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng, đưa ra nhận định: để thực hiện Chương trình xây dựng NTM đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, nhất là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT) kinh tế xã hội (KTXH) ở nông thôn. Tác giả cho rằng để quản lý tốt nguồn vốn xây dựng NTM cần thực hiện tốt các khâu từ lập kế hoạch, phân bổ vốn, thanh, quyết toán, công tác kiểm tra giám sát và báo cáo. Bên cạnh đó việc ban hành các chính sách kịp thời; sự vào cuộc đồng bộ, kiểm tra, giám sát của các cấp các ngành cũng hết sức quan trọng.
Bên cạnh những mặt đạt được, tác giả chưa phân tích rõ và đưa ra giải pháp từ khâu lập kế hoạch đến khâu kiểm tra, giám sát nên hạn chế tính khả thi ~ Nguyễn Thị Hồng Tuyến (2016), “Quản lý nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng nông thôn mới tại tinh Lai Châu”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Thái Nguyên. Đề tài làm rõ một số ấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng quản lý vốn ngân sách nhà nước (NSNN) đầu tư xây dựng NTM tại tỉnh Lai Châu. Trên cơ sở đó đề t một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn NSNN đầu tư xây dựng NTM trong thời gian tới. - Đoàn Thị Hân (2013), “Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho.
thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, trường hợp nghiên cứu điểm tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường đại học Thăng Long. Tác giả đã cho rằng các xã có điều kiện phát triển KTXH thì việc huy động nguồn lực tài chính (NLTC) của các đơn vị, cá nhân trên địa bàn đạt kết quả tốt hơn; ngược lại, ở những xã nghèo thì vấn đề huy động sự đóng góp các nguồn lực cho xây dựng NTM là hết sức khó khăn, vấn đề đầu tư cho chương trình xây dựng NTM chủ yếu phải trông chờ vào. nguồn đầu tư từ NSNN. ~ Nguyễn Hoàng Hà (2014), “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp huy.
động vốn đầu tư cho Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) xây dựng NTM giai đoạn đến năm 2020”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường đại học Thăng Long. Đề tài đã cho rằng những nguyên nhân chính làm hạn chế + quả huy động vốn của Chương trình giai đoạn 2011- 2013 là khả năng hạn chế của ngân sách Trung ương (NSTU), ngân sách địa phương (NSĐP); sự vào cuộc bị động của dân cư địa phương. Tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp cụ thê hoàn thiện chính sách huy động vốn trong thời gian tới. - Trương Thị Mỹ Lãnh (2019), “Giải pháp huy động nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị”, luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế Huế.
Tác giải tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc huy động nguồn vốn, thực trạng tại địa bàn nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc huy động nguồn vốn trong xây dựng NTM tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị Các công trình nghiên cứu khoa học đã nêu đều thẻ hiện sự công phu và tính hệ thống dưới nhiều góc độ khác nhau liên quan đến chủ đề quản lý vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới. Tính đến thời điểm thực hiện luận văn, chưa thấy có một công trình khoa học nào đề cập một cách có hệ thống việc quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới tại địa điểm cụ thé la huyện Thăng Bình. Tuy nhiên, các đề tài trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá, tác giả sẽ kế thừa, chọn lọc và vận dụng trong quá trình nghiên cứu. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE VON DAU TU’ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
LÝ LUẬN CHUNG VẺ VÓN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm a. Khái niệm nông thôn mới - Khái niệm nông thôn: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp” [22]. Theo thông tư số 12/2019/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chung về khái niệm nông thôn là: “Nông thôn là phan lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị của thành phó, thị xã, thị tran được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”.
Theo định nghĩa của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông, thôn mới tại Việt Nam thì “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phó, thị xã, thị trắn được quản lý bởi cắp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã”. Định nghĩa này được sử dụng trong nghiên cứu đề tài. Với định nghĩa đó, nông thôn của Việt Nam có những đặc trưng riêng. l5] Như vậy, nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, VH-XH và môi trường trong một thẻ chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tô chức khác, phân biệt với đô thị ~ Khái niệm nông thôn mới: 10 Trước tiên, nông thôn mới phải là nông thôn, chứ không phải là thị xã, thị trấn hay thành phố, nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống. Mô hình nông thôn mới là tổng thể, những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tô chức nông thôn theo tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong nông, thôn hiện nay. [22] Nhìn chung, mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ và văn minh. Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: ~ Đáp ứng yêu cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tắt cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.
~ Tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phô biến và vận dụng trên toàn lãnh thé. ~ Xây dựng mô hình nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực cho mọi người phát triển kinh tế, xã hội góp phần thực hiện chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. ~ Thay đổi cơ sở vật chất, diện mạo đời sống, văn hóa qua đó thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung quan trọng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong, đường lối, chủ trương phát triển đất nước và các địa phương.
Theo tinh thin Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ồn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái 11 được bảo vệ: hệ thống chính trị an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tỉnh thần của người dân ngày càng được nâng cao. - Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020” cho rằng: “Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hoá, tỉnh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới”. [4] Nông thôn mới (NTM) là tông thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho.
nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt. NTM là nông thôn văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ nét đẹp của truyền thống Việt Nam.