CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬN ÁN Vấn đề huy động vốn đầu tư tư nhân cho xây dựng phát triển được rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cũng như các chuyên gia kinh tế trong nước và ngoài nước quan tâm. Ở nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu dựa trên nghiên cứu thực chứng, đã đúc kết được những bài học quý từ các nước tiên tiến trong việc áp dụng các hình thức đầu tư nhằm huy động vốn ngoài ngân sách cho đầu tư phát triển nói chung và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nói riêng, để các nước đang phát triển nghiên cứu, học tập. Tại nhiều quốc gia, việc tư nhân hóa hay hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đã được thực hiện cách đây hàng thế kỷ, mô hình hợp tác đầu tư này, là một giải pháp xuất phát từ các nguyên nhân như sự hạn chế của NSNN, yêu cầu ngày càng cao về cơ sở hạ tầng hiện đại và sự tham gia rộng rãi của người dân trong giải quyết các vấn đề chung của đất nước.
Ở Việt Nam, nhiều các đề tài nghiên cứu cấp bộ đã được công bố, các đề tài về phát triển cơ sở hạ tầng đã tập trung nghiên cứu về hình thức XHH đầu tư, một hình thức đầu tư nhằm huy động vốn từ tư nhân cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đang được xem là “cứu cánh” cho vấn đề thiếu vốn để phát triển đất nước. Song, thông qua đó, cũng có thể thấy tại Việt Nam, sự tham gia của khu vực tư nhân vào khu vực công mà đặc biệt là vào các DNNN là tương đối hạn chế. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu nền tảng của xã hội hóa đầu tư XHH đầu tư đã được áp dụng phổ biến trên thế giới từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Kể từ năm 1992, khi chính phủ Vương quốc Anh đưa ra "Sáng kiến tài chính tư nhân" nhằm khuyến khích hình thức XHH trong cung ứng dịch vụ công. Nhiều mô hình tương tự đã được áp dụng tại nhiều nước phát triển và sau đó là các nước đang phát triển. Đến nay, XHH đầu tư đã thể hiện là một phương thức có nhiều triển vọng trong huy động nguồn lực đầu tư và cung cấp dịch vụ, hàng hóa công cộng và vì vậy được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và nhiều quốc gia trên thế giới. Có nhiều nghiên cứu về XHH đầu tư nói chung với những mục đích và mức độ khác nhau trên cả phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn.
Về mặt lý luận, các nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ khái niệm XHH đầu tư và các tranh luận về vai trò của các thành phần kinh tế cũng như các điều kiện thực hiện và khung pháp lý trong XHH đầu tư. Nghiên cứu về “XHH đầu tư” đã được John 7 luan an Maynard Keynes giới thiệu vào năm 1936 trong cuốn "Lý thuyết chung về tiền tệ, Lãi suất và việc làm" (General Theory of Employment, Interest, and Money) [62]. Trong chương kết luận của cuốn sách, Keynes đã chỉ ra ba vấn đề chính cần phải được giải quyết nhằm đảm bảo tài chính cho các hoạt động là: "không giữ tiền mặt" (thay tài sản tiền bằng tài sản phi tiền do lao động tạo ra), "xóa bỏ kiếm tiền bằng lợi tức" và "XHH đầu tư" (“parting with liquidity,” “euthanizing the rentiers,” and "socializing investment"). Trong học thuyết của Keneys, ba nhân tố này có mối quan hệ tất yếu vì ông lập luận rằng nhu cầu thực tế là động lực của nền kinh tế tư bản và sự tiêu dùng của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ là những nhân tố đảm bảo cho nền kinh tế vận hành.
Keynes (1936) khẳng định cần phải tạo ra một môi trường kinh tế thu hút nhiều đầu tư và ít tích trữ tiền. Chính vì thế, ba đề xuất chính sách của ông là: (1) "không giữ tiền mặt" (thay tài sản tiền bằng tài sản phi tiền do lao động tạo ra); (2) "xóa bỏ kiếm tiền bằng lợi tức" bằng việc hạ lãi xuất thấp đến mức mà không ai cảm thấy có lợi từ việc gửi tiết kiệm tiền (bởi vì giá trị kỳ vọng mang lại của tiền kém hấp dẫn hơn giá trị mang lại từ vốn); và (3) XHH đầu tư thông qua việc tạo ra một nhà tư bản kiểu mới bằng sự kết hợp công tư. Trong cuốn này Keynes cũng chỉ rõ rằng "XHH đầu tư" không phải là “làm cho trở thành của chung của xã hội” một cách xã hội chủ nghĩa. Ông giải thích rằng XHH đầu tư không đòi hỏi nhà nước phải giành quyền nắm giữ các tư liệu sản xuất và áp đặt các điều kiện về hoạt động kinh tế cho toàn bộ nền kinh tế.
Theo Keynes "Điều quan trọng không phải là nhà nước nắm giữ tư liệu sản xuất. Nếu nhà nước có thể giao các nguồn lực tập trung để tăng cường tư liệu sản xuất và xác định tỉ lệ thu hồi cơ bản các nguồn lực đó cho những người sẽ sở hữu chúng thì đó mới hoàn toàn là tất cả những gì cần thiết. [62] Xoay quanh các nghiên cứu về XHH đầu tư, có nhiều tác giả khác cũng đã có những nghiên cứu sâu sắc trên nhiều khía cạnh về vấn đề này như tác giả Seccareccia (2011) [79] với nghiên cứu về vai trò của đầu tư công như là một công cụ của kinh tế vĩ mô trong phát triển nền kinh tế dài hạn. Tác giả Zdravka Todorova (2010) đại học Wright State với công trình nghiên cứu "Nhận thức xã hội và XHH đầu tư”.
Các nghiên cứu này phân tích và làm rõ hơn lý thuyết của Keynes về XHH đầu tư và mối quan hệ, tác động của XHH đầu tư đến quản trị nguồn nhân lực, quản trị rủi ro và hiệu quả của nền kinh tế [82]. 8 luan an Về mặt thực tiễn: Trong các nghiên cứu về XHH đầu tư ở các nước phát triển, các tác giả thường chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công bởi vì về lĩnh vực kinh tế thì bản chất nền kinh tế của các nước phát triển vốn đã là nền kinh tế tư nhân. Nghiên cứu của Tollison (1988) cho ra đời lý thuyết “sự lựa chọn công cộng”, theo lý thuyết này, các chính sách của Chính phủ được hoạch định bởi các cá nhân hoặc nhóm vì quyền lợi riêng tư, do đó, hiệu quả chi tiêu công phụ thuộc lớn vào điều kiện thể chế, đặc biệt là quy trình cấp phát ngân sách, mức phân cấp và tỉ trọng hàng hóa dịch vụ công trong rổ hàng hóa do Chính phủ cung cấp. Tác giả còn cho rằng cải cách trong khu vực công muốn thành công phải thay đổi tận gốc, trước hết là loại trừ động cơ và các điều kiện nuôi dưỡng đặc quyền, đặc lợi.
Song, mặc dù đã chỉ ra nguyên nhân, nhưng nghiên cứu này cũng chưa đầy đủ để có thể giải thích sự thất bại của thị trường [83]. Dưới góc độ thực tiễn, nghiên cứu của các nhà khoa học, tư vấn quốc tế về lĩnh vực này tập trung vào việc khảo sát thực trạng, đánh giá tình hình thực hiện và đưa ra các khuyến nghị cho các nước đang phát triển. Nội dung và lĩnh vực của các báo cáo nghiên cứu thực tiễn rất đa dạng có thể kể đến các tác giả như Shani (2007), Grimsey & Lewis (2004), Kauffinann (2008), Tanaka (2008) và các tổ chức quốc tế như ADB, WB, OECD cũng có nhiều nghiên cứu về XHH đầu tư [78] [54], [61, 81]. Các nghiên cứu về xã hội hóa trên cơ sở hình thức hợp tác đối tác công tư Trong các hình thức đầu tư nhằm huy động vốn ngoài NSNN cho phát triển kinh tế - xã hội, hình thức hợp tác đối tác công tư, được xem như một sự đột phá, một giải pháp hữu hiệu tháo gỡ tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển ở một số nước.
Hình thức hợp tác công tư đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Đến nay, hình thức hợp tác đối tác công tư thể hiện là một phương thức được kỳ vọng trong cung cấp hàng hóa công cộng, giải bài toán thiếu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Chính vì vậy, hình thức này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý và Chính phủ của nhiều nước trên thế giới, đã có nhiều công trình, nhiều đề tài nghiên cứu về đầu tư theo phương thức hợp tác đối tác công tư [12]. Hình thức hợp tác đối tác công tư và XHH không hoàn toàn tương đồng với một số đặc điểm triển khai khác nhau.
Theo đó, hình thức hợp tác đối tác công tư có cơ sở pháp lý là hợp đồng và xác định rõ cơ chế xử lý và quản lý rủi ro. Bên cạnh đó, các dự án XHH thường phù hợp hơn với những dự án vừa và nhỏ với thời gian thu hồi vốn ngắn 9 luan an [31]. Tuy nhiên, với những ưu điểm và những nét tương đồng, hình thức đối tác công tư vẫn cần được nghiên cứu trong bối cảnh nghiên cứu về XHH đầu tư. Columbia (2003) trong nghiên cứu của mình đã giới thiệu tổng quan về phương thức hợp tác đối tác công tư.
Nghiên cứu này đã đưa ra những vấn đề chung nhất của phương thức hợp tác đối tác công tư và các mô hình hợp tác sinh ra từ quan hệ này; khám phá những vấn đề cơ bản về lý luận đã đưa ra cách phân loại các mối quan hệ công - tư và xem xét sự tác động của nó đối với các tổ chức về chi phí, chất lượng và thấy được những thách thức đối với quản trị dự án đầu tư trong tương lai [46]. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về mô hình đánh giá hiệu quả của cơ cấu vốn trong quan hệ đối tác công – tư và xác định các chương trình chuyển giao kiến thức nhằm xác định một cơ cấu cổ phần tối ưu của các đối tác tư nhân tham gia đầu tư vào khu vực nhà nước. Theo đó, giả định chi phí vốn thấp hơn của nhà nước và kinh phí phát triển thấp hơn khi đầu tư bởi một nhà đầu tư tư nhân, một cơ cấu vốn tối ưu là đạt được với DNNN và DNTN [68]. Fahyre Loiola (2013) trong nghiên cứu về cách thức xác định dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo phương thức hợp tác đối tác công tư tại Brazil đã chỉ ra những lợi ích và hạn chế của phương pháp này khi thực hiện các dự án đầu tư.