Tổng quan nghiên cứu

Cây rau sắng (Melientha suavis Pierre) tại khu vực rừng đặc dụng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội là một trong những loại nông sản đặc sản bản địa mang giá trị kinh tế và hàm lượng dinh dưỡng vượt trội. Theo kết quả kiểm nghiệm của Viện Dược liệu và các nghiên cứu chuyên ngành, trong 100g lá rau sắng chứa từ 6,5g đến 8,2g protit, 11,5mg vitamin C, 0,6mg carotene cùng 8 loại acid amin thiết yếu như lysin (0,23g) và treonin (0,45g). Giá bán rau sắng đầu vụ tại địa phương có thời điểm đạt mức 600.000 đồng/kg, mang lại tiềm năng sinh kế rất lớn cho khoảng 190.560 cư dân của huyện Mỹ Đức.

Mặc dù có giá trị kinh tế cao, hoạt động sản xuất và tiêu thụ rau sắng tại Mỹ Đức vẫn đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Quy mô canh tác chủ yếu phân tán, kỹ thuật thu hái thủ công và khâu bảo quản sau thu hoạch còn thô sơ khiến sản phẩm dễ bị dập nát, suy giảm phẩm chất trong vòng 24 đến 48 giờ. Đáng chú ý, hơn 90% sản lượng rau sắng hàng năm chỉ được tiêu thụ tập trung trong 3 tháng diễn ra lễ hội Chùa Hương, dẫn đến tình trạng mất cân đối cung cầu và phụ thuộc vào thương lái trung gian.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng vận hành và phân tích các chỉ tiêu tài chính như giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp của từng tác nhân trong chuỗi giá trị rau sắng tại huyện Mỹ Đức giai đoạn 2015 - 2017 và khảo sát sâu năm 2018. Thông qua việc đánh giá toàn diện chuỗi ngành hàng, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2020 nhằm nâng cấp chuỗi giá trị, thương mại hóa thương hiệu nhãn hiệu tập thể số 303102 đã được cấp chứng nhận, từ đó tạo nền tảng gia tăng từ 15% đến 25% thu nhập thực tế cho các hộ trồng trọt vùng núi đá vôi Hương Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter làm nền tảng cốt lõi, tiếp cận hệ thống hoạt động kinh tế từ khâu cung ứng đầu vào, sản xuất, thu gom, phân phối bán buôn, bán lẻ cho đến người tiêu dùng cuối cùng. Mỗi công đoạn trong chuỗi đóng vai trò tích lũy giá trị gia tăng, đồng thời tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua việc tối ưu hóa chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp phương pháp luận liên kết giá trị (ValueLinks) do Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) phát triển và khung phân tích ngành hàng (Filiere) của Fabre. Phương pháp này tiếp cận chuỗi sản phẩm theo ba chiều không gian, thời gian và sự chuyển đổi hình thái vật chất. Chuỗi cung ứng theo mô hình của Lambert được sử dụng để phân tích dòng vật chất và dòng thông tin luân chuyển giữa các tác nhân.

Nghiên cứu chuẩn hóa hệ thống khái niệm trọng tâm bao gồm: tác nhân trực tiếp (hộ nông dân, thương lái thu gom, hộ bán buôn, tiểu thương bán lẻ), mạch hàng (mối liên kết kinh tế giữa hai mắt xích kế cận), luồng hàng (kênh phân phối hoàn chỉnh đưa sản phẩm từ vùng trồng đến bàn ăn) và chỉ số kinh tế chuỗi bao gồm giá trị gia tăng (VA = Tổng doanh thu - Chi phí trung gian) cùng thu nhập hỗn hợp (MI = VA - Khấu hao tài sản - Thuế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong mốc thời gian từ năm 2015 đến năm 2018 tại huyện Mỹ Đức. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, số liệu thống kê ngành nông nghiệp thành phố Hà Nội và các văn bản chính sách liên quan.

Dữ liệu sơ cấp được điều tra thực địa với tổng quy mô mẫu là 107 đối tượng đại diện cho toàn bộ chuỗi ngành hàng. Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích tại xã Hương Sơn – trung tâm vùng trồng rau sắng lớn nhất huyện. Cụ thể, mẫu khảo sát gồm 50 hộ nông dân sản xuất trực tiếp, 05 hộ thu gom sơ chế, 05 hộ kinh doanh bán buôn, 05 hộ bán lẻ, 25 người tiêu dùng cuối cùng (bao gồm cả du khách lễ hội và khách hàng thành thị), 15 đại diện tham gia đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) cùng 07 cán bộ chuyên trách thuộc Phòng Kinh tế, Hội Nông dân xã, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức và Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hà Nội.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích tài chính chuỗi giá trị và phân tích ma trận SWOT. Lý do lựa chọn hệ chỉ tiêu VA/IC và MI/IC nhằm lượng hóa chính xác tỷ suất sinh lời trên một đồng chi phí trung gian bỏ ra của từng tác nhân, từ đó chỉ ra những bất hợp lý trong cơ chế phân phối lợi ích dọc theo chuỗi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sơ đồ chuỗi giá trị sản phẩm rau sắng Mỹ Đức hình thành với 5 tác nhân chính vận hành qua 4 kênh phân phối chủ đạo. Trong đó, kênh tiêu thụ trực tiếp tại chỗ phục vụ du khách lễ hội Chùa Hương chiếm tới 90% tổng sản lượng toàn huyện. Kênh đưa rau sắng vào hệ thống phân phối nội thành Hà Nội và các tỉnh lân cận như Hải Phòng, Hà Nam chỉ chiếm dưới 10% do hạn chế về phương tiện bảo quản lạnh và liên kết thương mại.

Thứ hai, giá bán sản phẩm có sự biến động cực kỳ lớn theo thời vụ và theo từng tác nhân trong chuỗi. Giá rau sắng đầu vụ (tháng 1 - tháng 2 âm lịch) dao động từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng/kg, trong khi vào chính vụ giảm xuống còn 150.000 đồng đến 250.000 đồng/kg. Toàn bộ 100% giao dịch giữa nông dân và người thu gom đều thực hiện bằng tiền mặt, không có hợp đồng bao tiêu, khiến người trồng chịu hoàn toàn rủi ro khi thị trường biến động.

Thứ ba, phân tích tài chính cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về hiệu quả kinh tế giữa các khâu. Mặc dù hộ nông dân gánh chịu chu kỳ đầu tư dài (cây sắng cần 3 đến 5 năm mới bắt đầu cho thu hoạch và 15 năm mới đạt đường kính thân 8 - 10 cm), nhưng tỷ suất giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC) của khâu bán buôn và bán lẻ lại đạt mức cao hơn đáng kể nhờ biên độ giá bán chênh lệch lớn trong mùa lễ hội.

Thứ tư, công tác xây dựng thương hiệu chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng. Dù Hội Nông dân xã Hương Sơn đã được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 303102 vào ngày 10/7/2018, sản phẩm xuất bán trên thị trường vẫn chủ yếu đựng trong túi nilon không nhãn mác, không mã QR truy xuất nguồn gốc, dẫn đến tình trạng rau ngót rừng từ các địa phương khác trà trộn làm suy giảm uy tín đặc sản Chùa Hương.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân phối lợi ích không đồng đều trong chuỗi bắt nguồn từ đặc thù sinh học và hạ tầng thương mại. Cây sắng sinh trưởng dưới tán rừng đá vôi, đòi hỏi độ che bóng từ 40% đến 50% khi trưởng thành, việc thu hái đòi hỏi nhiều công lao động leo núi hiểm trở. Tuy nhiên, do thiếu công nghệ chế biến sâu và kho lạnh bảo quản ở nhiệt độ tiêu chuẩn 5 - 10°C, các hộ nông dân buộc phải bán nhanh cho người thu gom địa phương ngay trong ngày để tránh hao hụt khối lượng.

So sánh với các nghiên cứu chuỗi giá trị nông sản bản địa tại Việt Nam như chuỗi bưởi da xanh Vĩnh Long hay thanh long Bình Thuận, chuỗi rau sắng Mỹ Đức có mức độ gắn kết dọc và ngang yếu hơn nhiều. Mối quan hệ giữa nông dân và thương nhân mang tính thời vụ, ngắn hạn, thiếu vắng sự tham gia của các hợp tác xã kiểu mới đóng vai trò đầu mối điều phối chất lượng.

Dữ liệu chuỗi giá trị có thể được trực quan hóa thông qua sơ đồ dòng luân chuyển hàng hóa và biểu đồ cột so sánh cơ cấu chi phí, doanh thu, lợi nhuận giữa các tác nhân. Biểu đồ phân tích biên lợi nhuận minh chứng rõ nét rằng tác nhân thương mại trung gian đang chiếm tỷ trọng lợi nhuận biên cao hơn trên mỗi đơn vị thời gian kinh doanh so với người trực tiếp sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch và chuẩn hóa kỹ thuật canh tác bền vững. Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức cùng Phòng Kinh tế cần phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam mở rộng diện tích trồng tập trung tại vùng đệm rừng Hương Sơn lên quy mô 120 ha đến năm 2025; tổ chức 10 lớp tập huấn hàng năm chuyển giao kỹ thuật nhân giống vô tính và bón phân vi sinh, giảm thiểu việc lạm dụng phân bón vô cơ nhằm đảm bảo 100% diện tích đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

Thứ hai, đầu tư hệ thống bảo quản sau thu hoạch và nâng cấp bao bì thương hiệu. Hợp tác xã Nông nghiệp Hương Sơn cần làm đầu mối đầu tư 02 kho lạnh sơ chế cộng đồng, ứng dụng công nghệ đóng gói hút chân không có màng bảo quản yếm khí, giúp kéo dài thời gian tươi ngon của rau sắng lên 7 - 10 ngày. Đồng thời, triển khai gắn tem truy xuất nguồn gốc QR-code trên bao bì chuẩn hóa từ 200g đến 500g, khai thác triệt để nhãn hiệu chứng nhận số 303102 đã được bảo hộ.

Thứ ba, thiết lập liên kết chuỗi giá trị khép kín và mở rộng kênh phân phối hiện đại. Các doanh nghiệp phân phối nông sản sạch tại Hà Nội ký kết hợp đồng tiêu thụ dài hạn với Hợp tác xã Hương Sơn, cam kết mức giá sàn bảo hiểm cho nông dân tối thiểu 180.000 đồng/kg; mục tiêu nâng tỷ trọng tiêu thụ tại các chuỗi siêu thị và nhà hàng cao cấp ngoài mùa lễ hội lên 35% tổng sản lượng trước năm 2024.

Thứ tư, tăng cường quản lý thị trường và xúc tiến thương mại du lịch sinh thái. Đội Quản lý thị trường huyện Mỹ Đức tăng cường kiểm tra, xử lý dứt điểm tình trạng giả mạo rau sắng Chùa Hương trong các mùa lễ hội; tích cực lồng ghép quảng bá sản phẩm rau sắng thành sản phẩm OCOP đạt hạng 4 sao gắn liền với các tour du lịch sinh thái tâm linh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan như Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hà Nội, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và bộ chỉ số kinh tế rõ ràng để xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái, định hướng hỗ trợ vốn và chính sách OCOP cho đặc sản địa phương.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa khung phân tích chuỗi giá trị ValueLinks, phân tích ngành hàng Filiere và các công cụ lượng hóa tài chính VA, MI trên một đối tượng cây trồng đặc thù.

Thứ ba, ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp và các hộ nông dân trồng cây dược liệu, rau rừng bản địa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra cách thức tối ưu hóa chi phí đầu vào, phương pháp hạch toán chi phí cơ hội của lao động gia đình và kỹ năng thương thảo hợp đồng kinh tế theo chuỗi liên kết.

Thứ tư, các doanh nghiệp phân phối, chuỗi bán lẻ thực phẩm an toàn và nhà đầu tư nông nghiệp công nghệ cao. Luận văn cung cấp góc nhìn sâu sắc về dung lượng thị trường, hành vi người tiêu dùng và tiềm năng khai thác chuỗi giá trị rau đặc sản cao cấp tại vùng Thủ đô.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến giá rau sắng Mỹ Đức có thời điểm đạt 600.000 đồng/kg là gì? Mức giá cao xuất phát từ tính thời vụ ngắn, năng suất cây trồng thấp khi cây 15 năm tuổi chỉ đạt đường kính thân khoảng 8 - 10 cm, cộng với nhu cầu thưởng thức đặc sản tâm linh của hàng vạn du khách trong những ngày khai hội Chùa Hương đầu năm trong khi nguồn cung tại chỗ vô cùng khan hiếm.

Sự khác biệt căn bản giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng rau sắng trong nghiên cứu này là gì? Chuỗi cung ứng mô tả mạng lưới hậu cần vật chất và thông tin đưa rau từ rừng về nơi tiêu thụ. Trong khi đó, chuỗi giá trị tiếp cận toàn diện hơn ở góc độ kinh tế vi mô, tập trung vào việc tạo ra, gia tăng và phân chia công bằng phần giá trị thặng dư cùng lợi nhuận giữa các tác nhân.

Rào cản lớn nhất đối với việc phân phối rau sắng ra ngoài địa bàn huyện Mỹ Đức là gì? Rào cản then chốt là đặc tính sinh hóa khiến lá sắng nhanh bị héo úa và biến chất trong điều kiện thường, kết hợp với việc thiếu hụt hạ tầng chuỗi lạnh sơ chế tại chỗ và chưa hình thành được các hợp đồng bao tiêu quy mô lớn với các hệ thống bán lẻ hiện đại tại trung tâm Hà Nội.

Chỉ số giá trị gia tăng (VA) và thu nhập hỗn hợp (MI) phản ánh điều gì đối với hộ trồng sắng? Chỉ số VA phản ánh phần giá trị mới tạo ra sau khi trừ chi phí vật tư trung gian, trong khi MI phản ánh thu nhập thực tế của người nông dân bao gồm cả tiền công lao động gia đình và lợi nhuận thuần, giúp đánh giá chính xác mức độ sinh kế bền vững của mô hình canh tác.

Nhãn hiệu chứng nhận số 303102 có vai trò thế nào trong việc nâng cấp chuỗi giá trị? Nhãn hiệu này là công cụ pháp lý xác thực nguồn gốc chỉ dẫn địa lý xã Hương Sơn, giúp ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại, tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng cao cấp và là điều kiện tiên quyết để đưa sản phẩm vào các kênh phân phối chính ngạch với giá bán ổn định.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuỗi giá trị và chuỗi ngành hàng, áp dụng thành công phương pháp luận ValueLinks vào phân tích loài cây đặc sản rau sắng tại huyện Mỹ Đức.
  • Phân tích thực trạng chỉ ra chuỗi giá trị rau sắng còn mang tính tự phát, 90% sản lượng phụ thuộc mùa lễ hội Chùa Hương và mối liên kết dọc giữa các tác nhân còn rất lỏng lẻo.
  • Kết quả lượng hóa kinh tế chứng minh tỷ suất lợi nhuận trên chi phí của khâu trung gian thương mại đang lấn át khâu sản xuất, đòi hỏi phải tái cơ cấu cơ chế phân chia giá trị gia tăng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với quy hoạch vùng trồng 120 ha, đầu tư kho lạnh bảo quản và khai thác nhãn hiệu tập thể số 303102 giai đoạn 2020 - 2025.
  • Các nhà quản lý địa phương và doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay mô hình liên kết hợp tác xã kiểu mới để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao thu nhập bền vững cho nông dân Mỹ Đức.