Tổng quan nghiên cứu

Quản lý môi trường nông thôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia. Tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, tổng diện tích tự nhiên đạt 10.566,57 ha với dân số năm 2014 là 98.560 người, trong đó nữ giới chiếm 50.111 người (tương đương 51% dân số) và lực lượng lao động nữ trong độ tuổi là 25.936 người. Sự phát triển kinh tế cùng quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã kéo theo sức ép lớn lên hệ sinh thái địa phương khi lượng chất thải rắn, phụ phẩm trồng trọt và nước thải chăn nuôi gia tăng nhanh chóng.

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu đặt ra là sự thiếu hụt các đánh giá toàn diện về mức độ, vai trò và rào cản đối với sự tham gia của phụ nữ trong công tác bảo vệ môi trường cơ sở. Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng tham gia của phụ nữ trong thu gom, phân loại, xử lý chất thải sinh hoạt và nông nghiệp giai đoạn 2013 - 2015, từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp khả thi nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ đến năm 2020.

Phạm vi không gian được thực hiện trên địa bàn 14 xã, thị trấn của huyện Lương Tài, tập trung khảo sát sâu tại thị trấn Thứa, xã Trung Kênh và xã Quảng Phú. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để Hội Liên hiệp Phụ nữ và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện nâng cao hiệu quả các chỉ tiêu bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu giảm thiểu trên 30% lượng rác thải tồn đọng và nâng tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt nông thôn đạt trên 85%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng dựa vào nội lực kết hợp thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng: tham gia thụ động, cung cấp thông tin, tham gia theo nghĩa vụ, tham gia định hướng từ bên ngoài và tham gia tự nguyện chủ động. Khung phân tích được xây dựng trên mô hình 7 bước hành động: "Phụ nữ biết - Phụ nữ bàn - Phụ nữ đóng góp - Phụ nữ làm - Phụ nữ kiểm tra - Phụ nữ quản lý - Mọi người cùng hưởng lợi".

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm: quản lý môi trường nông thôn, chất thải sinh hoạt, chất thải trồng trọt - chăn nuôi và bình đẳng giới trong quản lý tài nguyên. Nghiên cứu tích hợp các định hướng từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 và Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích để khảo sát 90 phụ nữ nông thôn tại 3 xã đại diện (30 phụ nữ/xã) gồm thị trấn Thứa (đại diện khu đô thị hóa, mật độ 1.248 người/km²), xã Trung Kênh (đại diện vùng trũng ven sông, mật độ 1.314 người/km²) và xã Quảng Phú (đại diện vùng chuyên canh nông nghiệp). Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 26 cán bộ quản lý cấp huyện và xã thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, Hội Liên hiệp Phụ nữ và ban quản lý nông thôn mới.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê giai đoạn 2010 - 2015 của Phòng Thống kê huyện Lương Tài. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và phân tích định tính được lựa chọn nhằm đo lường chính xác các tương quan giữa trình độ học vấn, điều kiện kinh tế hộ với mức độ tham gia quản lý môi trường của phụ nữ trong khung thời gian nghiên cứu từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa chỉ ra rằng việc phân loại rác thải tại nguồn chưa trở thành thói quen phổ biến khi có tới 30/90 phụ nữ được điều tra (chiếm 33,33%) cho biết rác thải sinh hoạt gia đình vẫn bị thu gom lẫn lộn và không qua phân loại. Đối với chất thải trồng trọt, có 18,89% lượng bao bì thuốc bảo vệ thực vật và phụ phẩm nông nghiệp bị vứt bừa bãi tại đồng ruộng thay vì thu gom vào các hố chứa chuyên dụng.

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước cục bộ vẫn tiếp diễn do chất thải và nước thải chăn nuôi chưa được xử lý triệt để, với 7,78% số hộ xả trực tiếp ra hệ thống kênh mương, ao hồ tự nhiên. Mức độ tham gia của phụ nữ hiện chủ yếu dừng lại ở cấp độ 2 (cung cấp thông tin) và cấp độ 3 (thực hiện theo nghĩa vụ), trong khi tỷ lệ phụ nữ chủ động tham gia giám sát, quản lý và vận hành các mô hình tự quản cấp thôn chỉ đạt khoảng 12,22%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của thực trạng trên bắt nguồn từ cơ cấu tổ chức quản lý môi trường cấp xã còn mỏng, nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường hạn chế và mức đóng góp vệ sinh của người dân còn thấp. Cơ sở hạ tầng thu gom chưa đồng bộ khiến nỗ lực phân loại rác tại gia đình không phát huy tác dụng khi xe gom rác vẫn đổ chung chất thải hữu cơ và vô cơ.

So sánh với mô hình xử lý rác thải hữu cơ quy mô hố 60cm x 80cm tại huyện Hưng Hà (Thái Bình) hoặc mô hình 95 tổ phụ nữ thu gom rác tự quản tại huyện Tiên Du (Bắc Ninh), huyện Lương Tài chưa hình thành được mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa chính quyền cơ sở, hội đoàn thể và người thu gom rác. Trên đồ thị phân tích cơ cấu, mối liên hệ thuận chiều giữa trình độ học vấn và tính tích cực trong quản lý môi trường cho thấy cần chuyển dịch cơ cấu truyền thông từ bề rộng sang chiều sâu để lấp đầy khoảng cách giữa nhận thức và hành vi thực tế của phụ nữ nông thôn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao năng lực: Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Lương Tài phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng phân loại rác tại nguồn, phấn đấu 100% cán bộ chi hội và ít nhất 85% hội viên nòng cốt được trang bị kiến thức xử lý rác hữu cơ tại hộ gia đình trong giai đoạn 2016 - 2020.
  2. Xây dựng và nhân rộng các tổ đội phụ nữ tự quản: Ủy ban nhân dân các xã và thị trấn ban hành quy chế thành lập tổ tự quản vệ sinh môi trường tại 100% thôn, xóm; mỗi tổ gồm 3 - 5 thành viên phụ nữ, được trang bị đầy đủ xe đẩy tay chuyên dụng, đồ bảo hộ lao động và chế độ bồi dưỡng thỏa đáng.
  3. Đa dạng hóa nguồn lực tài chính và xã hội hóa dịch vụ thu gom: Ủy ban nhân dân huyện chuẩn hóa mức thu phí vệ sinh môi trường từ 6.000 đến 10.000 đồng/hộ/tháng, đồng thời trích tối thiểu 15% quỹ sự nghiệp môi trường cấp huyện để hỗ trợ mua sắm công cụ, bể chứa rác trên cánh đồng và hóa chất khử trùng bãi tập kết.
  4. Tăng cường thanh tra, giám sát và hoàn thiện công trình xử lý: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện đẩy mạnh hỗ trợ xây dựng hầm biogas cho 100% cơ sở chăn nuôi gia mô hình trang trại, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt trên 80% trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Nắm vững phương pháp triển khai phong trào "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch", cách thức thành lập tổ đội phụ nữ tự quản và bộ tài liệu truyền thông môi trường phù hợp với địa bàn nông thôn.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước về Tài nguyên và Môi trường: Tham khảo cơ sở thực tiễn để ban hành cơ chế phối hợp liên ngành, định mức thu phí vệ sinh và chính sách đầu tư hạ tầng xử lý rác thải cấp huyện, cấp xã.
  • Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu ngành Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn: Khai thác khung lý thuyết 7 bước tham gia của cộng đồng, bộ chỉ tiêu đánh giá thực địa và phương pháp luận khảo sát phân tầng.
  • Các tổ chức phát triển xã hội và tổ chức phi chính phủ: Ứng dụng mô hình lồng ghép giới vào các dự án nước sạch, vệ sinh môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu trọng tâm của luận văn là gì? Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong bảo vệ môi trường nông thôn tại huyện Lương Tài giai đoạn 2013 - 2015, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính chủ động của phụ nữ trong thu gom, phân loại rác và quản lý nguồn nước đến năm 2020.

Tỷ lệ rác thải sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn ở huyện Lương Tài là bao nhiêu? Kết quả khảo sát 90 hộ phụ nữ tại 3 xã, thị trấn điểm cho thấy có 30 trường hợp (chiếm tỷ lệ 33,33%) chất thải sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn mà thu gom lẫn lộn, gây khó khăn cho việc xử lý và tái chế rác hữu cơ.

Những yếu tố chính nào ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong bảo vệ môi trường? Nghiên cứu xác định 6 yếu tố then chốt: cơ cấu tổ chức quản lý môi trường, trình độ học vấn của phụ nữ, đặc điểm ngành nghề kinh tế, công tác chỉ đạo vận động của Hội Phụ nữ, điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ và chính sách hỗ trợ tài chính từ Nhà nước.

Kinh nghiệm từ các địa phương nào được đề xuất áp dụng cho huyện Lương Tài? Luận văn đúc kết bài học từ mô hình hố rác hữu cơ 60cm x 80cm tại huyện Hưng Hà (Thái Bình), mô hình 95 tổ phụ nữ thu gom rác tại huyện Tiên Du (Bắc Ninh) và quy trình quản lý nước sạch, vệ sinh nông thôn của Trung Quốc để áp dụng phù hợp với điều kiện Lương Tài.

Luận văn đề xuất mức phí vệ sinh và cơ chế tài chính cụ thể như thế nào? Nghiên cứu khuyến nghị xã hội hóa nguồn kinh phí thông qua việc thu phí dịch vụ môi trường định kỳ từ 6.000 đến 10.000 đồng/hộ/tháng kết hợp nguồn hỗ trợ từ ngân sách huyện để trả thù lao cho công nhân vệ sinh và trang bị xe thu gom chuyên dụng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý môi trường nông thôn gắn với khung lý thuyết 5 cấp độ và 7 bước tham gia của phụ nữ.
  • Phản ánh trung thực thực trạng quản lý chất thải tại huyện Lương Tài với 33,33% rác sinh hoạt chưa phân loại và 7,78% hộ chăn nuôi xả thải trực tiếp ra tự nhiên.
  • Xác lập mối tương quan giữa trình độ văn hóa, điều kiện hạ tầng và hiệu quả tham gia bảo vệ môi trường của 25.936 lao động nữ trong huyện.
  • Đề xuất đồng bộ 5 nhóm giải pháp khả thi về truyền thông, nhân lực tự quản, huy động vốn, xã hội hóa giám sát và xây dựng cơ sở hạ tầng xử lý rác giai đoạn 2016 - 2020.
  • Kêu góp các cấp ủy, chính quyền địa phương và Hội Phụ nữ khẩn trương thể chế hóa các giải pháp nhằm hoàn thiện tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.