Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Bắc Ninh ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,6%/năm, kéo theo sự mở rộng mạnh mẽ của thị trường lao động với tổng lực lượng lao động năm 2015 đạt 661.800 người và tỷ lệ lao động có việc làm đạt 98,0%. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng, đặc biệt là tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm tới 74,7% tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống thông tin thống kê lao động việc làm. Tuy nhiên, công tác thống kê lao động việc làm tại địa phương trong giai đoạn này bộc lộ nhiều hạn chế về độ trễ công bố, tính chính xác và khả năng tiếp cận thông tin của người dùng tin.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng chất lượng số liệu thống kê lao động việc làm, nhận diện các yếu tố cản trở và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu. Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng thống kê lao động việc làm; phân tích toàn diện thực trạng công tác thu thập, xử lý, phân tích và công bố thông tin thống kê tại Bắc Ninh; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng về nhân lực, công nghệ, kinh phí và thể chế; từ đó đề xuất các giải pháp khả thi đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 8 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Bắc Ninh. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2011-2017 và dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng tỷ lệ hài lòng của các cơ quan quản lý nhà nước đối với thông tin thống kê từ mức trung bình lên trên 80%, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý dữ liệu phục vụ điều hành kinh tế - xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng khung phân tích dựa trên hệ thống tiêu chuẩn chất lượng thống kê của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) kết hợp với Khung đảm bảo chất lượng của Cơ quan Thống kê Canada (2002). Theo đó, chất lượng số liệu thống kê không chỉ đo lường bằng độ chính xác kỹ thuật mà được đánh giá qua 6 tiêu thức toàn diện: tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời, khả năng tiếp cận, khả năng giải thích và tính chặt chẽ. Mô hình tiếp cận này đảm bảo thông tin thống kê phản ánh đúng thực tiễn và đáp ứng tối đa nhu cầu của các bên liên quan.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng quan điểm quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000 và lý thuyết chất lượng tương đối của Edward Sallis (1993), khẳng định chất lượng là mức độ đáp ứng các chuẩn mực quy định và sự thỏa mãn của người sử dụng trong điều kiện nguồn lực xác định. Bốn khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Thông tin thống kê: Dữ liệu được xử lý, tổng hợp và phân tích theo quy trình nghiệp vụ để phản ánh bản chất hiện tượng kinh tế - xã hội.
  2. Điều tra chọn mẫu: Phương pháp thu thập dữ liệu trên một số lượng đơn vị đại diện để suy rộng cho toàn bộ tổng thể.
  3. Chế độ báo cáo thống kê: Tập hợp các quy định bắt buộc về biểu mẫu, kỳ hạn và quy trình tổng hợp số liệu phục vụ quản lý nhà nước.
  4. Hệ thống chỉ tiêu thống kê: Danh mục chuẩn hóa các chỉ tiêu phản ánh quy mô, cơ cấu và biến động của thị trường lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, báo cáo chuyên đề của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các văn bản chỉ đạo của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2011-2017.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát chọn mẫu với quy mô tổng cộng 106 đối tượng tại 4 trên 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh (đạt tỷ lệ 50% số đơn vị hành chính). Mẫu khảo sát được phân tầng theo ba nhóm chủ thể:

  • Nhóm sản xuất thông tin: 30 cán bộ, công chức thống kê (gồm 10 người cấp Cục Thống kê tỉnh và 20 người cấp Chi cục Thống kê huyện).
  • Nhóm cung cấp thông tin: 40 hộ gia đình tại 8 địa bàn điều tra dân cư.
  • Nhóm sử dụng thông tin: 36 cán bộ quản lý và chuyên viên thuộc các cơ quan Đảng, HĐND, UBND và các sở, ban, ngành cấp tỉnh, huyện (gồm 20 đại diện cấp tỉnh và 16 đại diện cấp huyện).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả ba mắt xích trong chuỗi giá trị thông tin thống kê. Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa và phân tích bằng phương pháp phân tổ thống kê kết hợp thống kê mô tả. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia sâu (KIP) được sử dụng để giải thích nguyên nhân gốc rễ của các sai số và độ trễ dữ liệu. Tiến độ nghiên cứu được triển khai xuyên suốt năm 2017 và hoàn thiện vào đầu năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng 30 cán bộ chuyên trách thống kê và 36 người sử dụng thông tin thống kê tại tỉnh Bắc Ninh chỉ ra chất lượng thông tin thống kê lao động việc làm nhìn chung mới đạt mức trung bình với nhiều hạn chế rõ rệt:

Thứ nhất, về tính chính xác và kịp thời của số liệu: Có tới 30,0% ý kiến khảo sát đánh giá chất lượng số liệu ở mức trung bình và 23,3% đánh giá ở mức thấp; chỉ có 46,7% ý kiến đánh giá đạt mức khá và tốt. Về tính kịp thời, 30,0% người được hỏi nhận định số liệu có độ trễ lớn (kém) và 36,7% đánh giá mức trung bình. Nguyên nhân là do kỳ công bố số liệu chính thức cấp tỉnh thường bị chậm từ 6 đến 12 tháng sau khi kết thúc năm điều tra.

Thứ hai, về tính phù hợp và khả năng giải thích: Mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin của số liệu chỉ đạt mức trung bình theo đánh giá của 36,7% người dùng, trong khi 13,3% cho rằng mức độ đáp ứng còn thấp. Đáng lưu ý, chỉ có 30,0% người sử dụng cho biết họ nhận được các bảng giải trình phương pháp và tài liệu chú thích bổ sung khi tiếp cận số liệu, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách.

Thứ ba, hạn chế về năng lực số hóa và ứng dụng công nghệ thông tin: Đánh giá kỹ năng của 30 cán bộ công chức cho thấy chỉ 16,7% sử dụng thành thạo phần mềm Excel ở mức nâng cao, 60,0% ở mức trung bình và 23,3% chỉ thao tác ở mức đơn giản hoặc không thành thạo. Đối với phần mềm thống kê chuyên ngành SSIC, tỷ lệ cán bộ sử dụng tốt là 0%, mức trung bình chỉ chiếm 6,7%, trong khi có tới 93,3% cán bộ sử dụng kém hoặc hoàn toàn không biết sử dụng.

Thứ tư, bất cập trong việc phản ánh chuyển dịch cơ cấu lao động: Cơ cấu lao động của tỉnh Bắc Ninh chuyển biến rất nhanh với tỷ trọng lao động công nghiệp - xây dựng tăng từ 36,1% năm 2011 lên 47,4% năm 2015 (tăng 11,4%), lao động nông nghiệp giảm mạnh từ 44,9% xuống 22,5% (giảm 22,4%). Tuy nhiên, hệ thống thu thập thông tin qua báo cáo hành chính của ngành lao động chưa theo kịp tốc độ biến động thực tế, dẫn đến độ lệch đáng kể giữa số liệu báo cáo và kết quả điều tra chọn mẫu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chất lượng thống kê lao động việc làm tại Bắc Ninh phản ánh điểm nghẽn mang tính quy trình và công nghệ. Khâu thu thập dữ liệu sơ cấp vẫn dựa chủ yếu vào việc ghi phiếu giấy thủ công, làm tăng nguy cơ sai số hệ thống do phỏng vấn viên và kéo dài thời gian nhập liệu tại văn phòng Cục Thống kê.

So sánh với bài học kinh nghiệm từ Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc và Nam Định, các địa phương này đã chủ động chuẩn hóa đội ngũ cán bộ và triển khai phần mềm quản lý điều tra trực tuyến ngay từ cấp huyện, giúp kiểm soát sai số tức thì. Tại Bắc Ninh, việc thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu liên thông giữa Cục Thống kê và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội dẫn đến tình trạng chồng chéo chỉ tiêu và lãng phí nguồn lực ngân sách.

Dữ liệu khảo sát nếu được biểu diễn trên đồ thị phân phối tần số về năng lực tin học và bảng đối sánh 6 tiêu chí chất lượng sẽ cho thấy sự tương quan thuận rất rõ: địa bàn nào có cán bộ giàu kinh nghiệm (trên 5 năm công tác chiếm 60,0%) và kỹ năng xử lý dữ liệu tốt thì chất lượng báo cáo đạt độ chính xác cao hơn hẳn. Việc đầu tư thiết bị di động (CAPI) và hoàn thiện quy trình kiểm tra chéo là điều kiện tiên quyết để nâng cao toàn diện các chỉ số chất lượng số liệu.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao toàn diện chất lượng công tác thống kê lao động việc làm tại tỉnh Bắc Ninh, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ: Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phân tích dữ liệu, phương pháp chọn mẫu và vận hành phần mềm chuyên dụng (SSIC, Stata, Excel nâng cao) cho 100% cán bộ thuộc Cục Thống kê và Chi cục Thống kê cấp huyện đến năm 2020. Mục tiêu nâng tỷ lệ cán bộ sử dụng thành thạo phần mềm nghiệp vụ lên trên 85%, đồng thời bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi thị trường lao động tại từng địa bàn. Chủ thể thực hiện: Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh.

Thứ hai, hiện đại hóa công nghệ thu thập và xử lý số liệu: Chuyển đổi phương thức điều tra từ phiếu giấy truyền thống sang phỏng vấn trực tiếp bằng thiết bị thông minh (CAPI) trên phạm vi toàn tỉnh. Giải pháp này giúp loại bỏ hoàn toàn thời gian nhập tin thủ công, giảm thiểu sai số ghi chép và rút ngắn thời gian công bố số liệu chính thức cấp tỉnh từ 6 tháng xuống dưới 45 ngày sau kỳ điều tra. Chủ thể thực hiện: Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh phối hợp Trung tâm Tin học Thống kê.

Thứ ba, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu và tăng cường phối hợp liên ngành: Rà soát, sửa đổi danh mục chỉ tiêu thống kê lao động việc làm cấp tỉnh, đảm bảo tính tương thích với chuẩn mực quốc tế của ILO. Thiết lập quy chế chia sẻ dữ liệu điện tử định kỳ hàng quý giữa Cục Thống kê và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, khắc phục triệt để tình trạng chênh lệch số liệu về lao động tạo việc làm mới và lao động qua đào tạo. Chủ thể thực hiện: UBND tỉnh Bắc Ninh, Cục Thống kê và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

Thứ tư, bảo đảm nguồn lực tài chính và chuẩn hóa quy trình quản lý chất lượng: Đề xuất UBND tỉnh bổ sung kinh phí hỗ trợ công tác điều tra thống kê từ ngân sách địa phương, duy trì chính sách hỗ trợ phụ cấp nghề nghiệp từ 15% đến 20% lương cho cán bộ thống kê cơ sở. Xây dựng và áp dụng quy trình kiểm soát chất lượng dữ liệu khép kín theo tiêu chuẩn ISO từ khâu thiết kế mẫu, nghiệm thu phiếu đến phổ biến thông tin. Chủ thể thực hiện: HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh và Cục Thống kê tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan Thống kê nhà nước và cán bộ ngành Thống kê: Lãnh đạo Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê các tỉnh, thành phố và Chi cục Thống kê cấp huyện có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng số liệu và thiết kế phương án điều tra lao động việc làm theo công nghệ CAPI.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động và kế hoạch đầu tư: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh khai thác bức tranh chuyển dịch cơ cấu việc làm và các chỉ tiêu thất nghiệp để xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực, chính sách an sinh xã hội và kế hoạch đào tạo nghề sát với nhu cầu của các doanh nghiệp FDI.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các chuyên gia và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Thống kê học có thể kế thừa khung lý thuyết 6 tiêu thức chất lượng của OECD, phương pháp chọn mẫu phân tầng 3 bên và mô hình đánh giá năng lực cán bộ phục vụ các công trình nghiên cứu mở rộng.

  4. Doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và nhà đầu tư: Các nhà quản trị nhân sự và tổ chức tư vấn sử dụng các dữ liệu về biến động thu nhập bình quân (tăng từ 3,437 triệu đồng năm 2013 lên 4,663 triệu đồng năm 2015) và tỷ lệ lao động qua đào tạo (56%) để hoạch định chiến lược tuyển dụng, định mức tiền lương và dự báo nguồn cung lao động tại các khu công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Khung tiêu chí đánh giá chất lượng thống kê lao động việc làm trong nghiên cứu gồm những gì? Luận văn áp dụng khung 6 tiêu thức chuẩn quốc tế của OECD và Canada gồm: tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời, khả năng tiếp cận, khả năng giải thích và tính chặt chẽ. Khảo sát tại Bắc Ninh cho thấy chỉ 46,7% ý kiến đánh giá độ chính xác ở mức khá, trong khi có tới 30,0% đánh giá tính kịp thời ở mức kém.

Điểm nghẽn lớn nhất về năng lực công nghệ của cán bộ thống kê tại Bắc Ninh là gì? Khoảng cách kỹ năng số là rào cản nghiêm trọng nhất: chỉ 16,7% cán bộ sử dụng thành thạo Excel nâng cao, trong khi có tới 93,3% cán bộ sử dụng kém hoặc không biết sử dụng phần mềm thống kê chuyên ngành SSIC. Đây là nguyên nhân trực tiếp khiến việc tổng hợp dữ liệu bị kéo dài.

Cơ cấu lao động của tỉnh Bắc Ninh có sự chuyển dịch cụ thể như thế nào? Trong giai đoạn 2011-2015, cơ cấu lao động chuyển biến mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa: tỷ trọng lao động công nghiệp - xây dựng tăng nhanh từ 36,1% lên 47,4% (tăng 11,4%), lao động dịch vụ tăng lên 30,1%, trong khi lao động nông nghiệp giảm sâu từ 44,9% xuống còn 22,5%.

Vì sao cần thay thế phiếu điều tra giấy bằng thiết bị thông minh CAPI? Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu giấy truyền thống phát sinh nhiều sai số ghi chép và tốn nhiều tháng nhập liệu thủ công. Áp dụng thiết bị CAPI cho phép kiểm tra logic tự động ngay khi phỏng vấn, tiết kiệm chi phí in ấn và rút ngắn chu kỳ công bố dữ liệu xuống dưới 45 ngày.

Làm thế nào để người dùng tin tiếp cận số liệu thống kê lao động việc làm dễ dàng hơn? Luận văn khuyến nghị Cục Thống kê Bắc Ninh số hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu trên Cổng thông tin điện tử, cung cấp miễn phí các báo cáo phân tích kèm bảng giải thích phương pháp luận, giúp khắc phục tỷ lệ 30,0% người dùng hiện gặp khó khăn trong việc tiếp cận và hiểu đúng số liệu.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý chất lượng thông tin thống kê lao động việc làm theo khung 6 tiêu chuẩn quốc tế của OECD và chuẩn mực ISO 9000:2000.
  • Đánh giá thực chứng thực trạng thống kê tại Bắc Ninh với cỡ mẫu 106 đối tượng, chỉ rõ độ trễ công bố từ 6 đến 12 tháng và 93,3% cán bộ chưa làm chủ phần mềm chuyên ngành SSIC.
  • Phân tích chi tiết sự chuyển dịch cơ cấu lao động gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế 12,6%/năm của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ CAPI, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu và cơ chế ngân sách đến năm 2020.
  • Khẳng định giá trị ứng dụng thực tiễn cao của luận văn đối với công tác quản lý nhà nước về thị trường lao động và an sinh xã hội địa phương.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan để triển khai thí điểm phần mềm CAPI ngay trong kỳ điều tra tới. Các nhà quản lý, nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách cần chủ động khai thác các phát hiện và khuyến nghị của luận văn nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế bền vững.