mở đầu cho thời kỳ phát triển mạnh mẽ của cây chè Phú Thọ nói riêng và cả nước nói chung. Cây chè Phú Thọ được trồng khắp các huyện Thanh Ba, Hạ Hoà, Đoan Hùng, Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập… Với điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho phát triển cây chè, Phú Thọ có tiềm năng và lợi thế để phát triển chè theo hướng bền vững. Từ năm 2001, Chương trình phát triển cây chè luôn được tỉnh xác định là một trong những chương trình sản xuất nông nghiệp trọng điểm cần quan tâm chỉ đạo, đầu tư phát triển; Đến hết năm 2015, chương trình phát triển chè trên địa bàn tỉnh đã đạt được kết quả quan trọng: Diện tích chè đạt 16,5 ngàn ha; năng suất đạt 101,1 tạ/ha, sản lượng đạt 154,7 nghìn tấn (so với năm 2010, diện tích tăng 959 ha, năng suất chè búp tươi tăng 20,3 tạ/ha, sản lượng tăng 43,1 ngàn tấn); diện tích sản xuất chè an toàn được mở rộng (Cục thống kê tỉnh Phú Thọ, 2017). Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đầu tư thâm canh, đưa cơ giới hoá vào sản xuất được đẩy mạnh, đã hình thành các vùng sản xuất tập trung có khối lượng hàng hoá lớn, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đưa tỉnh Phú Thọ lên vị trí thứ 4 về diện tích, thứ 3 về sản lượng chè trong số các tỉnh sản xuất chè của cả nước, góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo cho lao động nông thôn.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Huyện Thanh Sơn có diện tích trồng chè 2.486,2 ha, trong đó diện tích chè hộ nông dân sản xuất là 1.583,31 ha, còn lại là diện tích trồng của các doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biến chè; diện tích chè giống mới đạt 2.113,3 ha, diện tích chè chất lượng cao đạt 317 ha, năng suất chè đạt 115 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 25.545,9 tấn, giá trị kinh tế đạt 306.550,8 triệu đồng; Ngoài diện tích trồng chè, Thanh Sơn có khoảng 470 cơ sở chế biến chè, sản phẩm chủ yếu là chè xanh, chè đen, một số cơ sở như: Bảo Long, Văn Võ Miếu, Bát Long Trà, Phú Sơn… và các làng nghề, hộ chế biến nhỏ chế biến chè xanh, chè cao cấp. Hàng năm, sản lượng chè chế biến các loại của huyện đạt 4. Có thể thấy, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đầu tư thâm canh gắn với sản xuất theo quy trình an toàn, đưa cơ giới hoá vào sản xuất được đẩy mạnh, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên năng suất, chất lượng chè được nâng lên; đã hình thành các vùng sản xuất tập trung có khối lượng hàng hoá lớn gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm góp phần quan trọng xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho lao động nông thôn. Điển hình như nhà máy chè Tôn Vinh Phú Thọ ở xóm Dẹ 1, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn (thuộc Công ty TNHH phát triển Công nghệ và Thương mại Tôn Vinh) chuyên sản xuất chè thô để xuất khẩu sang Nga, Pakistan, Đài Loan, Trung Quốc.
Mỗi năm công ty sản xuất đạt sản lượng khoảng 1000 tấn chè các loại, cho doanh thu gần 30 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho gần 40 công nhân quanh vùng với mức lương 5,5 triệu đồng/tháng (Huyện ủy Thanh Sơn, 2017).Tuy nhiên, giá cả biến động thất thường, nhà máy thiếu nguyên liệu, sản xuất manh mún, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường xuất khẩu chè… Không chỉ có doanh nghiệp gặp khó khăn mà người trồng chè cũng lao đao không kém, hầu hết các hộ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, giá cả phụ thuộc vào tư thương, năng suất, chất lượng chè còn thấp so với tiềm năng, đặc biệt là diện tích chè của các hộ dân quản lý; việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật (trồng cây che bóng, đốn, hái, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…) chưa tuân thủ quy trình. Quy mô sản xuất nhỏ, manh mún nên khó khăn cho việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật mới, Công tác chỉ đạo của các cơ quan nhà nước thúc đẩy liên kết, sản xuất tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và các hộ nông dân trồng chè còn hạn chế; Thị trường đầu vào của sản xuất cây chè biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân trồng chè, giá các yếu tố đầu vào liên tục tăng cao làm cho một bộ phận nông dân gặp không ít khó khăn, đặc biệt là nông dân nghèo, đồng thời gây hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân; 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước những thực tế đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng, thấy rõ được các tồn tại, hạn chế để từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè búp tươi của vùng, góp phần cải thiện, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân. Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ” làm Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý kinh tế. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi nhằm góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất bền vững chè búp tươi của hộ nông dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Mục tiêu cụ thể + Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân. + Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn. + Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn.
+ Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân trên địa bàn huyện. Đối tượng khảo sát + Các nhóm hộ sản xuất chè búp tươi có quy mô khác nhau + Các giống chè + Cây trồng khác tương đương + Các tổ chức kinh tế xã hội có liên quan (hội nông dân, khuyến nông, cơ quan quản lý ngành nông nghiệp.); Các cơ chế chính sách có liên quan; 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài + Phạm vi về nội dung Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân ở quy mô khác nhau, các giống chè; Các yếu tố ảnh hưởng; Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. + Phạm vi về không gian Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Một số nội dung chuyên sâu được khảo sát ở 03 xã đại diện: Xã Văn Miếu, xã Võ Miếu, xã Địch Quả huyện Thanh Sơn tỉnh Phú thọ; + Phạm vi về thời gian Luận văn thu thập các số liệu thứ cấp có liên quan đên hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi hộ nông dân trong thời gian từ năm 2014- 2016. Các số liệu sơ cấp khảo sát thực tiễn được thực hiện trong 2017; Các giải pháp đề xuất cho các năm tiếp theo 2018-2020.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân; Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn; Từ thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân huyện Thanh Sơn, tác giả nêu lên những tồn tại và nguyên nhân trong quá trình sản xuất chè búp tươi của hộ nông dân; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn tỉnh Phú thọ; Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo, là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành đưa ra phương hướng để phát huy thế mạnh, khắc phục những tồn tại, giải quyết những khó khăn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè búp tươi đối với hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Sơn tỉnh Phú thọ, góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo cho lao động nông thôn. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT CHÈ BÚP TƯƠI CỦA HỘ NÔNG DÂN 2.
Các khái niệm cơ bản 2. Hộ gia đình, hộ nông dân * Khái niệm về hộ: Hiện có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm nông hộ như: - Theo tác giả Weberster (1990) cho rằng Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng chung một ngân quỹ. - Theo Raul (1989): Hộ là những người có chung huyết thống, có quan hệ mật thiết lẫn nhau trong quá trình tạo ra của cải vật chất, tạo ra sản phẩm để tồn tại cho bản thân và cho gia đình trong cộng đồng. - Theo Martin (1998): Hộ gia đình Là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dừng và các hoạt động kinh tế khác.
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về hộ nhưng các quan điểm này đều đưa ra những đặc điểm chung sau: + Các thành viên cùng chung sống dưới một mái nhà. + Các thành viên có chung nguồn thu nhập. + Các thành viên sản xuất chung. + Các thành viên có trách nhiệm với nhau trong sự tồn tại và phát triển (Đỗ Văn Viện và Đặng Văn Tiến, 2006).
* Khái niệm hộ nông dân Từ khái niệm về hộ gian đình, tác giả nhận thấy, hộ nông dân là 1 dạng của hộ gia đình chuyên sản xuất nông nghiệp, là đơn vị kinh tế có đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.