Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong nền nông nghiệp khi cung cấp tới 40% tổng sản lượng thịt cho thị trường thực phẩm. Tuy nhiên, sự xuất hiện của dịch bệnh tai xanh (Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn - PRRS) đã trở thành mối hiểm họa nghiêm trọng, gây suy giảm miễn dịch và thiệt hại kinh tế nặng nề. Trên thế giới, dịch PRRS khiến ngành chăn nuôi tại Mỹ tổn thất ước tính khoảng 560 triệu USD mỗi năm. Tại Việt Nam, kể từ khi bùng phát mạnh vào năm 2007, dịch bệnh đã buộc ngành thú y phải tiêu hủy hơn 40.000 con lợn năm 2007, gần 300.000 con năm 2008 và đỉnh điểm lên tới 400.000 con vào năm 2010.

Tại tỉnh Hà Tĩnh, tốc độ tăng trưởng đàn lợn diễn ra nhanh chóng về quy mô nhưng trình độ quản lý và ý thức an toàn sinh học còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc dịch tai xanh thường xuyên tái bùng phát. Trong khi các loại vacxin nhập ngoại có giá thành cao dao động từ 50.000 đến 70.000 đồng mỗi liều làm tăng chi phí chăn nuôi, việc tìm kiếm giải pháp vacxin trong nước đạt chuẩn là yêu cầu cấp thiết. Đề tài hướng tới mục tiêu cụ thể là bước đầu đánh giá hiệu quả lâm sàng, khả năng sinh kháng thể và các chỉ tiêu sinh sản, sinh trưởng khi sử dụng vacxin nhược độc đông khô RTD PRRS-1 trên đàn lợn nuôi tại Hà Tĩnh. Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 01/05/2016 đến ngày 31/12/2016 tại trang trại quy mô 50 nái thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh và phòng thí nghiệm RTD. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa chủ trương nội địa hóa vacxin, hạ giá thành phòng bệnh xuống khoảng 25.000 đồng mỗi liều, bảo vệ sức khỏe đàn giống và giảm thiểu tỷ lệ chết ở lợn con.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở virus học và miễn dịch học thú y đối với virus PRRS (PRRSV), loài virus thuộc giống Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales. Virus có hệ gen là ARN sợi đơn dương kích thước 15 đến 15,5 Kb với ít nhất 8 khung đọc mở (ORF 1a, 1b và ORF 2-7) mã hóa cho 20 loại protein chức năng. Hạt virion có cấu trúc hình cầu đối xứng 20 mặt với đường kính từ 45 đến 55 nm. Độc lực của chủng virus được quyết định bởi glycoprotein 5 (ORF5) và protein không cấu trúc Nsp2, trong đó các chủng PRRSV độc lực cao tại Việt Nam và Trung Quốc có đặc điểm đứt đoạn 30 axit amin tại vị trí 481 và 532-560 của Nsp2. Về mặt sinh lý bệnh, PRRSV có tính hướng đặc hiệu tấn công trực tiếp vào tế bào đại thực bào phế nang phổi (PAM), làm phá hủy hàng rào miễn dịch tự nhiên và tạo điều kiện cho các vi khuẩn bội nhiễm nguy hiểm như Streptococcus suis type 2 hay Mycoplasma hyopneumoniae xâm nhập. Virus dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao (bị bất hoạt ở 56 độ C sau 45 phút) và ổn định trong môi trường pH từ 6,5 đến 7,5. Quá trình đáp ứng miễn dịch dịch thể của lợn sản sinh kháng thể IgM sau 7 ngày, IgG sau 14 ngày và kháng thể trung hòa xuất hiện sau 4 đến 5 tuần, duy trì kéo dài khoảng 1 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm so sánh ngẫu nhiên có đối chứng trên tổng cỡ mẫu 20 lợn nái mang thai có ngày đẻ dự kiến trùng nhau, được chia thành 2 đợt thí nghiệm tại trang trại hộ ông Đặng Hữu Hòa, huyện Cẩm Xuyên. Mỗi đợt gồm 10 con: 5 con thuộc lô thí nghiệm được tiêm 2 mũi vacxin RTD PRRS-1 (mũi 1 tiêm lúc 8 tuần trước khi đẻ, mũi 2 nhắc lại sau 1 tháng với liều 2 ml mỗi con) và 5 con thuộc lô đối chứng không tiêm phòng. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích dựa trên sự đồng đều về thể trạng, lứa đẻ và thời gian mang thai nhằm loại bỏ các yếu tố gây nhiễu do điều kiện ngoại cảnh.

Phương pháp xét nghiệm miễn dịch gắn enzyme (ELISA) gián tiếp bằng bộ kit của hãng IDEXX được lựa chọn để định lượng hiệu giá kháng thể kháng PRRSV từ mẫu huyết thanh lấy tại tĩnh mạch cổ ở ngày thứ 21 và ngày thứ 35 sau tiêm mũi 1, đo mật độ quang ở bước sóng 450 nm để tính tỷ lệ mẫu trên dương tính (S/P) với ngưỡng bảo hộ dương tính khi S/P lớn hơn hoặc bằng 0,4. Chỉ tiêu lâm sàng và thân nhiệt được theo dõi hàng ngày qua nhiệt kế điện tử đo trực tràng liên tục 7 ngày trước tiêm và 42 ngày sau tiêm vào 7-8 giờ sáng (đo 5 lần mỗi cá thể lấy trung bình). Các chỉ tiêu sinh sản, tỷ lệ lợn sơ sinh sống, tỷ lệ chết, loại thải, trọng lượng sơ sinh và cai sữa lúc 21 ngày tuổi được ghi chép và xử lý thống kê bằng phần mềm MS Excel 2010 và Minitab 16.0 với kiểm định so sánh mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về phản ứng lâm sàng và biến động thân nhiệt, 100% lợn nái ở lô thí nghiệm xuất hiện phản ứng sốt nhẹ sau tiêm, trong đó có 20% cá thể giảm ăn nhẹ và 10% có triệu chứng táo bón tạm thời. Thân nhiệt lợn thí nghiệm tăng rõ rệt từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 6 sau mũi tiêm 1 (đạt đỉnh 40,30 ± 0,30 độ C ở ngày thứ 4) và tăng lại từ ngày thứ 22 đến ngày 26 sau mũi tiêm 2 (đạt đỉnh 40,65 ± 0,18 độ C ở ngày 24), sau đó nhanh chóng hồi phục về mức sinh lý bình thường (38,57 ± 0,29 độ C), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng duy trì ổn định ở mức 38,24 đến 38,97 độ C (p < 0,05).

Thứ hai, về động thái kháng thể ELISA, trước khi tiêm vacxin, hiệu giá kháng thể ở cả hai lô dao động phân tán và không đồng đều do nhiễm virus tự nhiên (đợt 1 có 4 cá thể âm tính, 6 dương tính; đợt 2 có 3 âm tính, 7 dương tính với chỉ số S/P biến thiên từ 0,07 đến 1,98). Tuy nhiên, sau khi tiêm đủ 2 mũi vacxin, tại ngày thứ 35, 100% lợn lô thí nghiệm đạt mức kháng thể dương tính rất cao và đồng đều (chỉ số S/P trung bình đạt 1,258 ± 0,108 ở đợt 1 và 1,512 ± 0,202 ở đợt 2). Trong khi đó, lô đối chứng tuy có kháng thể do phơi nhiễm môi trường nhưng độ phân tán rất lớn (S/P trung bình 1,158 ± 0,880 ở đợt 1) và vẫn tồn tại cá thể âm tính với S/P chỉ đạt 0,10 đến 0,30.

Thứ ba, về năng suất sinh sản và tỷ lệ nuôi sống của đàn con, tổng hợp qua 2 đợt thí nghiệm, 10 lợn nái lô thí nghiệm sinh ra 127 lợn con với 124 con sống khỏe mạnh, đạt tỷ lệ sống 97,64% và tỷ lệ chết, loại thải chỉ chiếm 2,36%. Ngược lại, lô đối chứng sinh ra 121 lợn con nhưng chỉ có 105 con sống, tỷ lệ chết và loại thải lên tới 13,22% (chênh lệch 10,86% với p = 0,001). Thời gian động dục trở lại sau cai sữa của nái thí nghiệm đạt 6,6 ngày, ngắn hơn đáng kể so với 9,3 ngày của lô đối chứng. Lợn con sinh ra từ nái tiêm phòng có trọng lượng sơ sinh và cai sữa cao hơn, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và viêm đường hô hấp giảm rõ rệt.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng tăng thân nhiệt từ 40,30 đến 40,65 độ C kèm theo giảm ăn nhẹ ở lô thí nghiệm là phản ứng sinh lý miễn dịch bình thường. Khi kháng nguyên nhược độc đông khô RTD PRRS-1 xâm nhập, các đại thực bào được huy động để xử lý kháng nguyên, đồng thời giải phóng các chất gây sốt nội sinh như Interleukin-1 (IL-1) và Interleukin-6 (IL-6) tác động lên trung khu điều nhiệt. Khi hệ miễn dịch hoàn thiện quá trình nhận diện và sinh kháng thể sau khoảng 5 ngày, thân nhiệt tự động ổn định trở lại.

Sự vượt trội về tỷ lệ sống của lợn con (97,64% so với 86,78%) và việc rút ngắn thời gian động dục lại của lợn nái (6,6 ngày so với 9,3 ngày) chứng minh vacxin đã tạo ra miễn dịch dịch thể đồng nhất, bảo vệ nái khỏi tổn thương hệ sinh sản và truyền kháng thể mẹ hiệu quả qua sữa đầu giúp lợn con chống chịu áp lực mầm bệnh môi trường. Ngược lại, sự biến thiên kháng thể thất thường ở lô đối chứng (sai số lên đến ± 0,880) lý giải nguyên nhân các trại nuôi tự nhiên vẫn thường xuyên xảy ra hiện tượng đẻ non, thai chết lưu và lợn con còi cọc.

Các kết quả nghiên cứu trên được trực quan hóa sinh động: dữ liệu thân nhiệt được biểu diễn qua biểu đồ đường biến thiên 42 ngày chỉ rõ hai đỉnh tăng nhiệt tương ứng với hai lần tiêm vacxin; trong khi hiệu quả sinh sản và tỷ lệ loại thải được so sánh trực quan bằng biểu đồ cột đối sánh giữa tỷ lệ 2,36% của nhóm thí nghiệm và 13,22% của nhóm đối chứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa phác đồ tiêm phòng nái: Các chủ trang trại và bác sĩ thú y cần áp dụng quy trình tiêm chủng 2 mũi vacxin RTD PRRS-1 cho đàn nái hậu bị và nái mang thai (mũi đầu lúc 8 tuần trước đẻ, mũi 2 sau đó 4 tuần), tiến hành tái chủng định kỳ 3 đến 4 tháng một lần nhằm duy trì chỉ số kháng thể S/P toàn đàn đạt trên mức 1,0.

Thứ hai, theo dõi và can thiệp phản ứng sau tiêm: Kỹ thuật viên trại cần tiến hành đo thân nhiệt trực tràng trong khung giờ 7-8 giờ sáng liên tục từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 6 sau tiêm; chủ động bổ sung vitamin C, chất điện giải và thuốc hạ sốt khi thân nhiệt vượt ngưỡng 40 độ C nhằm kiểm soát tỷ lệ giảm ăn xuống dưới 5%, đảm bảo thể trạng nái trước khi sinh.

Thứ ba, chuyển đổi sử dụng vacxin nội địa: Các cơ sở chăn nuôi tại Hà Tĩnh và khu vực Bắc Trung Bộ nên chủ động thay thế vacxin nhập ngoại bằng vacxin RTD PRRS-1 có giá thành 25.000 đồng một liều, giúp tiết kiệm từ 50% đến 60% chi phí thú y trực tiếp mà vẫn bảo đảm tỷ lệ nuôi sống lợn con đạt trên 97%.

Thứ tư, kết hợp các biện pháp an toàn sinh học đồng bộ: Chính quyền địa phương và các cơ sở chăn nuôi cần thực hiện khử trùng chuồng trại định kỳ 2 lần mỗi tuần, kiểm soát chặt chẽ nguồn tinh dịch lợn đực giống, cách ly triệt để lợn mới nhập đàn tối thiểu 21 ngày và tuyệt đối không vận chuyển lợn từ các ổ dịch tai xanh ra ngoài thị trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm chủ trang trại và hộ chăn nuôi quy mô từ 50 nái trở lên: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để đánh giá hiệu quả kinh tế, giúp người chăn nuôi tự tin sử dụng vacxin nội địa nhằm giảm tỷ lệ chết ở lợn con từ 13,22% xuống 2,36%, tiết kiệm chi phí phòng bệnh hàng chục triệu đồng mỗi năm.

Nhóm bác sĩ thú y và cán bộ kỹ thuật chăn nuôi: Luận văn cung cấp quy trình thao tác chuẩn về kỹ thuật lấy mẫu máu tĩnh mạch cổ, kỹ thuật tiêm phòng, phác đồ theo dõi biến động thân nhiệt 42 ngày và phương pháp giải thích kết quả xét nghiệm ELISA.

Nhóm sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngành Thú y: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp bố trí thí nghiệm đối chứng thực địa, mô hình đánh giá tương tác miễn dịch giữa nái và lợn con, cùng phương pháp xử lý số liệu y sinh bằng phần mềm chuyên dụng.

Nhóm cán bộ quản lý thú y và khuyến nông địa phương: Cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ công tác xây dựng kế hoạch phòng chống dịch tai xanh cấp tỉnh, hỗ trợ chính sách phát triển và thương mại hóa các dòng vacxin sản xuất trong nước.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Việc lợn nái sốt cao trên 40 độ C sau khi tiêm vacxin RTD PRRS-1 có gây nguy cơ sảy thai không? Trả lời: Phản ứng sốt từ 40,12 đến 40,65 độ C diễn ra trong 2 đến 5 ngày sau tiêm là phản ứng sinh lý tự nhiên khi cơ thể tiết cytokine IL-1 và IL-6 để kích hoạt miễn dịch. Nghiên cứu thực tế trên 20 nái mang thai cho thấy thân nhiệt tự hồi phục về mức 38,57 độ C mà không ghi nhận bất kỳ ca sảy thai hay đẻ non nào.

Câu 2: Hiệu giá kháng thể ELISA đạt chỉ số S/P bao nhiêu thì đảm bảo lợn nái có khả năng bảo hộ? Trả lời: Theo quy chuẩn của bộ kit IDEXX, chỉ số S/P từ 0,4 trở lên là dương tính. Kết quả nghiên cứu chứng minh sau 35 ngày tiêm vacxin RTD PRRS-1, đàn nái đạt chỉ số S/P trung bình từ 1,258 đến 1,512, đảm bảo khả năng bảo hộ đồng đều và tạo lượng kháng thể truyền qua sữa mẹ dồi dào cho đàn con.

Câu 3: Đàn nái đã có kháng thể do nhiễm virus tự nhiên thì có cần thiết phải tiêm phòng vacxin không? Trả lời: Rất cần thiết. Nghiên cứu chỉ ra kháng thể do phơi nhiễm tự nhiên có mức độ dao động rất lớn, nhiều cá thể vẫn có chỉ số S/P âm tính dưới 0,30. Sự thiếu đồng đều này khiến tỷ lệ lợn con chết và loại thải ở lô đối chứng lên tới 13,22%, cao hơn gần 6 lần so với đàn được tiêm phòng chủ động (2,36%).

Câu 4: Vacxin RTD PRRS-1 tác động như thế nào đến chu kỳ sinh sản tiếp theo của lợn nái? Trả lời: Việc tiêm vacxin giúp bảo vệ cơ quan sinh sản của nái khỏi tổn thương do virus gây ra. Đàn nái được tiêm phòng có thời gian phục hồi và động dục trở lại trung bình chỉ mất 6,6 ngày sau cai sữa, rút ngắn đáng kể so với 9,3 ngày ở đàn không tiêm, giúp tăng số lứa đẻ trên nái mỗi năm.

Câu 5: Hiệu quả kinh tế của vacxin RTD PRRS-1 so với các dòng vacxin nhập khẩu như thế nào? Trả lời: Vacxin RTD PRRS-1 có giá thành 25.000 đồng mỗi liều, thấp hơn từ 25.000 đến 45.000 đồng so với các sản phẩm nhập ngoại từ Đức hay Tây Ban Nha có giá 50.000 đến 70.000 đồng. Sử dụng vacxin nội giúp trang trại giảm trên 50% chi phí tiêm phòng mà vẫn nâng tỷ lệ lợn con sống lên 97,64%.

Kết luận

  • Vacxin nhược độc đông khô RTD PRRS-1 tạo đáp ứng miễn dịch chủ động mạnh mẽ, nâng hiệu giá kháng thể S/P trung bình lên 1,258 đến 1,512 với độ đồng đều 100% trên đàn nái sau 35 ngày tiêm.
  • Nâng cao tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn con sinh ra đạt 97,64% và giảm thiểu tỷ lệ chết, loại thải xuống 2,36% so với mức 13,22% ở nhóm đối chứng không tiêm phòng (p = 0,001).
  • Rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa của lợn nái xuống còn 6,6 ngày, cải thiện tốc độ tăng trọng và giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu hóa, hô hấp ở lợn con.
  • Đóng góp luận cứ khoa học vững chắc khẳng định tính hiệu lực và độ an toàn của vacxin sản xuất trong nước, giúp hạ giá thành phòng dịch hơn 50% so với vacxin nhập khẩu.
  • Các trang trại chăn nuôi tại Hà Tĩnh cần đưa ngay quy trình tiêm phòng RTD PRRS-1 vào lịch thú y định kỳ trong chu kỳ chăn nuôi mới, đồng thời các cơ quan quản lý cần tiếp tục mở rộng khảo nghiệm trên các giống lợn thương phẩm quy mô lớn.