Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam đã thúc đẩy sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu sử dụng đất. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước đã thu hồi hơn 728 nghìn ha đất, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 536 nghìn ha, làm thay đổi căn bản điều kiện sinh kế của hơn 826.012 hộ gia đình. Tại tỉnh Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn là một trọng điểm phát triển với tổng diện tích tự nhiên đạt 6.108,87 ha, trong đó quỹ đất nông nghiệp chiếm 2.999,15 ha (tương đương 49,1% diện tích tự nhiên). Sự bùng nổ của các khu đô thị và dịch vụ đã tạo ra áp lực lớn đối với bài toán an sinh xã hội, giải quyết việc làm và duy trì thu nhập bền vững cho cư dân nông thôn mất đất canh tác.

Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng thu hồi đất và đánh giá toàn diện mức độ ảnh hưởng của quá trình này đến đời sống, việc làm cũng như cơ cấu thu nhập của người dân tại Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị và dịch vụ Từ Sơn, tọa lạc trên địa bàn phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp; khảo sát thực trạng bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho 1.250 hộ dân bị tác động trên quy mô dự án 68,7 ha; định lượng sự biến động về việc làm và nguồn thu nhập trước và sau khi thu hồi đất; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ nhằm ổn định sinh kế.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập tại phường Đồng Kỵ trong khung thời gian từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm cụ thể từ 150 hộ khảo sát đại diện: thu nhập bình quân đầu người sau thu hồi tăng từ 48,7 triệu đồng lên 81,9 triệu đồng/người/năm, song song với việc tỷ lệ thất nghiệp tăng cục bộ từ 5,36% lên 9,05%. Đây là nguồn cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác quy hoạch chính sách đất đai tại các vùng ven đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba khung lý thuyết nền tảng trong kinh tế học phát triển và quản lý tài nguyên đất đai. Thứ nhất, Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) được áp dụng để đánh giá sự chuyển dịch của 5 nguồn vốn sinh kế: vốn tự nhiên (đất canh tác), vốn tài chính (tiền bồi thường, tích lũy), vốn con người (trình độ tay nghề, năng lực lao động), vốn vật chất (nhà ở, cơ sở hạ tầng) và vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, mạng lưới làng nghề). Thứ hai, Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Arthur Lewis giải thích quy luật chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đô thị có giá trị gia tăng cao hơn. Thứ ba, Lý thuyết địa tô và giá trị đất đai của David Ricardo làm sáng tỏ căn cứ hình thành đơn giá bồi thường chênh lệch địa tô khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.

Khung khái niệm của nghiên cứu được chuẩn hóa dựa trên các quy định pháp luật hiện hành. Khái niệm thu hồi đất được xác định theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013; khái niệm việc làm và việc làm bền vững được chuẩn hóa theo Điều 9 Bộ luật Lao động 2012 và các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Về mặt chính sách, nghiên cứu căn cứ vào Nghị định 47/2014/NĐ-CP (quy định mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề không quá 5 lần giá đất nông nghiệp) và Quyết định 63/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động có đất bị thu hồi trong thời hạn 5 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê giai đoạn 2011–2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Từ Sơn, Phòng Thống kê và UBND phường Đồng Kỵ liên quan đến hiện trạng sử dụng 6.108,87 ha đất tự nhiên và hồ sơ bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án quy mô 68,7 ha.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra phỏng vấn trực tiếp 150 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp (trong tổng số 1.250 hộ bị ảnh hưởng bởi dự án). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (stratified random sampling) được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất, chia đều thành 3 nhóm hộ theo tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi:

  • Nhóm I: 50 hộ bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp được giao.
  • Nhóm II: 50 hộ bị thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp được giao.
  • Nhóm III: 50 hộ bị thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp được giao.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tầng này là vì mức độ phụ thuộc vào đất nông nghiệp và nguy cơ đứt gãy sinh kế có sự khác biệt rõ rệt giữa các hộ mất ít đất và hộ mất hầu hết tư liệu sản xuất. Toàn bộ thông tin định lượng được số hóa và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, kết hợp phương pháp so sánh đối chiếu (trước và sau thu hồi) và phương pháp chuyên khảo nhằm tổng hợp ý kiến từ các chuyên gia quản lý đô thị và chính quyền địa phương. Tiến độ thu thập dữ liệu và xử lý thực địa được tiến hành tập trung liên tục từ tháng 02/2016 đến tháng 05/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế trên diện tích 31.198,5 m2 đất bị thu hồi của 150 hộ dân được điều tra (tương ứng với tổng kinh phí bồi thường và hỗ trợ đạt 18.881 triệu đồng) mang lại các phát hiện cốt lõi sau:

Thứ nhất, có sự phân bổ rõ rệt trong phương thức sử dụng nguồn tiền bồi thường. Các hộ gia đình ưu tiên lớn nhất cho tái đầu tư sản xuất kinh doanh với 5.573 triệu đồng (chiếm 29,52% tổng kinh phí), xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa với 3.938 triệu đồng (chiếm 20,86%), mua sắm tiện nghi sinh hoạt với 3.006 triệu đồng (chiếm 15,92%), gửi tiết kiệm ngân hàng 2.568 triệu đồng (chiếm 13,60%), đầu tư vào giáo dục con cái 2.011 triệu đồng (chiếm 10,65%), và dành cho các khoản chi tiêu khác 1.658 triệu đồng (chiếm 8,78%).

Thứ hai, mức thu nhập bình quân ghi nhận sự cải thiện vượt bậc. Trước khi thu hồi đất, thu nhập bình quân đầu người đạt 48,7 triệu đồng/người/năm. Sau khi dự án triển khai và nguồn vốn bồi thường được đưa vào lưu thông, thu nhập bình quân đã tăng lên 81,9 triệu đồng/người/năm, tương ứng với mức tăng trưởng 68,17%. Đồng thời, 80,7% số hộ dân được khảo sát đánh giá hệ thống hạ tầng giao thông, điện chiếu sáng và phúc lợi công cộng tại địa bàn phường Đồng Kỵ tốt hơn đáng kể so với trước khi thu hồi đất.

Thứ ba, cơ cấu việc làm xuất hiện độ trễ chuyển đổi và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp cục bộ. Trong tổng số 150 hộ điều tra, trước khi thu hồi đất có 560 người trong độ tuổi lao động, trong đó 530 người có việc làm (đạt tỷ lệ 94,64%) và 30 người chưa có việc làm (chiếm 5,36%). Sau khi thu hồi đất, tổng số người trong độ tuổi lao động tăng lên 641 người, số người có việc làm đạt 583 người (chiếm 90,95%), nhưng số người thất nghiệp tăng lên 58 người (chiếm 9,05%, tăng 3,69 điểm phần trăm).

Thứ tư, áp lực ô nhiễm môi trường gia tăng cùng tốc độ đô thị hóa. Ước tính có khoảng 20.000 m3 nước thải sinh hoạt và làng nghề xả trực tiếp mỗi ngày ra lưu vực sông Ngũ Huyện Khê chảy qua địa bàn thị xã, gây suy giảm chất lượng môi trường sống cục bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản giúp thu nhập của người dân Đồng Kỵ tăng trưởng mạnh (đạt 81,9 triệu đồng/người/năm) dù mất đất sản xuất xuất phát từ đặc thù kinh tế địa phương. Đồng Kỵ là trung tâm sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ truyền thống nổi tiếng, nằm trong cơ cấu kinh tế thị xã Từ Sơn với ngành Công nghiệp - Xây dựng chiếm 77,9% và Dịch vụ - Thương mại chiếm 20,1% (nông nghiệp chỉ còn chiếm 2,0%). Tiền bồi thường đất nông nghiệp đóng vai trò như một nguồn bơm vốn kịp thời để 29,52% dòng tiền đi thẳng vào mở rộng xưởng gỗ, mua máy móc hiện đại và kinh doanh dịch vụ thương mại.

Tuy nhiên, sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp từ 5,36% lên 9,05% cho thấy nghịch lý của việc chuyển đổi sinh kế không đồng đều. Nhóm lao động trung niên từ 45 tuổi trở lên vốn quen với canh tác nông nghiệp gặp rào cản lớn khi học nghề mới hoặc không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng khắt khe của các doanh nghiệp. Tình trạng này có nét tương đồng với các nghiên cứu giải phóng mặt bằng vùng ven đô tại Trung Quốc (như dự án đập Tam Hiệp với 60% người tăng thu nhập qua kinh doanh nhưng vẫn tồn tại nhóm yếu thế) và tại một số địa phương lân cận Hà Nội.

Về phương thức trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu phân bổ dòng tiền bồi thường (18.881 triệu đồng) và sự biến động cơ cấu lao động (từ 560 lên 641 người) được trình bày chi tiết qua hệ thống bảng thống kê đối sánh hai thời điểm và biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng chuyển dịch cơ cấu việc làm, giúp các cấp quản lý dễ dàng nhận diện nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất sau thu hồi đất.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tồn tại về việc làm, sinh kế và môi trường sau thu hồi đất, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách đơn giá bồi thường và hỗ trợ sinh kế linh hoạt. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng thị xã Từ Sơn cần áp dụng khung giá đất bồi thường sát với giá trị giao dịch thực tế trên thị trường, đồng thời thực hiện mức hỗ trợ chuyển đổi nghề tối đa từ 3 đến 5 lần giá đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP. Mục tiêu giải ngân 100% kinh phí bồi thường và hỗ trợ trong thời hạn 6 tháng kể từ khi phê duyệt phương án, đảm bảo các hộ dân nhận đủ tiền trước khi bàn giao mặt bằng 68,7 ha của dự án.

Thứ hai, thiết lập chương trình đào tạo nghề gắn liền với chuỗi cung ứng địa phương. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Từ Sơn phối hợp cùng UBND phường Đồng Kỵ triển khai ngay các khóa đào tạo nghề ngắn hạn (dưới 3 tháng) theo Quyết định 63/2015/QĐ-TTg, tập trung vào kỹ thuật chế tác gỗ mỹ nghệ cao cấp, thương mại điện tử và dịch vụ đô thị. Mục tiêu giai đoạn 2017–2020 là đào tạo và giải quyết việc làm mới cho ít nhất 85% số lao động chưa có việc làm (trong tổng số 58 lao động thất nghiệp được phát hiện).

Thứ ba, cung ứng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và tư vấn quản trị tài chính hộ. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh thị xã Từ Sơn kết hợp cùng Hội Nông dân tổ chức các gói vay ưu đãi với hạn mức tối đa 100 triệu đồng/hộ, lãi suất áp dụng theo diện hộ nghèo để hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Đồng thời, chính quyền cơ sở cần tổ chức 100% các buổi tư vấn định hướng tài chính cho 1.250 hộ dân nhận đền bù, nhằm duy trì tỷ lệ vốn đầu tư sinh lời trên 40% và giảm tỷ lệ chi tiêu tiêu dùng thụ động xuống dưới 15%.

Thứ tư, đầu tư hạ tầng bảo vệ môi trường và xử lý nước thải làng nghề. Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Từ Sơn chủ trì giám sát việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất tối thiểu 20.000 m3/ngày đêm dọc sông Ngũ Huyện Khê, hoàn thành trước năm 2020 nhằm đảm bảo 100% nguồn nước thải làng nghề và khu đô thị mới đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi xả ra môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý đất đai và cán bộ giải phóng mặt bằng cấp quận, huyện, thị xã. Công trình cung cấp quy trình điều tra phân tầng mẫu (150 hộ theo 3 nhóm tỷ lệ mất đất) và khung đánh giá tác động sinh kế thực tế, hỗ trợ xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề khả thi cho các dự án phát triển hạ tầng tiếp theo.

Thứ tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các doanh nghiệp phát triển hạ tầng đô thị. Tài liệu giúp chủ đầu tư nắm bắt tâm lý, hành vi sử dụng 18.881 triệu đồng tiền bồi thường của cư dân bản địa, từ đó chủ động xây dựng phương án an sinh, cam kết tuyển dụng lao động địa phương và giảm thiểu tối đa tình trạng khiếu kiện kéo dài gây chậm tiến độ mặt bằng 68,7 ha.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về sinh kế bền vững, hệ thống chỉ tiêu đo lường thu nhập (tăng từ 48,7 lên 81,9 triệu đồng/người/năm) và phương pháp xử lý dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực.

Thứ tư, chính quyền địa phương cấp xã, phường và các hội đoàn thể quần chúng. Báo cáo mang lại cái nhìn thực tế về cơ cấu chi tiêu của người dân, từ đó giúp Hội Phụ nữ, Hội Nông dân thiết kế các chương trình tư vấn tài chính gia đình và hướng nghiệp thiết thực cho 58 lao động chưa có việc làm sau khi mất đất sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Thu nhập bình quân của người dân Đồng Kỵ biến động như thế nào sau khi thu hồi đất nông nghiệp? Thu nhập bình quân đầu người của các hộ khảo sát ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc 68,17%, từ 48,7 triệu đồng/người/năm trước khi thu hồi lên 81,9 triệu đồng/người/năm sau khi nhận bồi thường. Mức tăng này chủ yếu nhờ người dân sử dụng 5.573 triệu đồng tiền bồi thường để mở rộng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ và phát triển kinh doanh dịch vụ thương mại thay vì độc canh nông nghiệp.

Tại sao tỷ lệ thất nghiệp của các hộ điều tra lại tăng từ 5,36% lên 9,05%? Mặc dù số lượng lao động có việc làm tăng từ 530 lên 583 người, nhưng tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động (từ 560 lên 641 người) cùng với việc mất tư liệu sản xuất nông nghiệp đã khiến 58 lao động rơi vào tình trạng thiếu việc làm. Nhóm lao động lớn tuổi, có trình độ chuyên môn thấp gặp nhiều rào cản trong việc chuyển hướng sang các ngành nghề phi nông nghiệp.

Các hộ gia đình tại dự án phân bổ nguồn tiền bồi thường 18.881 triệu đồng như thế nào? Khảo sát 150 hộ cho thấy dòng tiền bồi thường được ưu tiên tái đầu tư kinh doanh nhiều nhất với 5.573 triệu đồng (29,52%). Tiếp theo là xây dựng, cải tạo nhà ở 3.938 triệu đồng (20,86%), mua sắm tài sản 3.006 triệu đồng (15,92%), gửi tiết kiệm 2.568 triệu đồng (13,60%), chi tiêu cho việc học tập của con cái 2.011 triệu đồng (10,65%), và các chi phí khác 1.658 triệu đồng.

Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề hiện hành mang lại quyền lợi gì cho người mất đất nông nghiệp? Theo Nghị định 47/2014/NĐ-CP và Quyết định 63/2015/QĐ-TTg, người lao động bị thu hồi đất được nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề tối đa không quá 5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại, được hỗ trợ toàn bộ học phí khi tham gia các khóa học nghề trình độ sơ cấp dưới 3 tháng trong thời hạn 5 năm, và được vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm.

Cơ sở hạ tầng và môi trường sống của người dân thay đổi ra sao sau dự án đô thị Từ Sơn? Có tới 80,7% hộ dân đánh giá điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông và phúc lợi xã hội được cải thiện rõ rệt sau khi hình thành khu đô thị. Tuy nhiên, chất lượng môi trường nước lại suy giảm nghiêm trọng khi lưu lượng nước thải ước tính 20.000 m3/ngày từ các làng nghề và khu dân cư xả trực tiếp ra sông Ngũ Huyện Khê mà chưa được xử lý đồng bộ.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện quá trình thu hồi 31.198,5 m2 đất nông nghiệp của 150 hộ dân điều tra tại dự án khu đô thị và dịch vụ Từ Sơn quy mô 68,7 ha, với tổng kinh phí bồi thường giải ngân đạt 18.881 triệu đồng.
  • Nghiên cứu chỉ ra sự chuyển biến tích cực trong sinh kế khi thu nhập bình quân đầu người tăng 68,17% (từ 48,7 triệu lên 81,9 triệu đồng/người/năm), trong đó 29,52% nguồn vốn đền bù được tái đầu tư trực tiếp vào làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ và thương mại dịch vụ.
  • Luận văn cảnh báo nguy cơ bất ổn việc làm khi tỷ lệ thất nghiệp tăng lên mức 9,05% (tương ứng 58 lao động thiếu việc làm) và áp lực xả thải 20.000 m3 nước thải/ngày đe dọa trực tiếp đến môi trường lưu vực sông Ngũ Huyện Khê.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đã được đề xuất với lộ trình thực thi rõ ràng giai đoạn 2017–2020, trọng tâm là đào tạo nghề theo Quyết định 63/2015/QĐ-TTg, hỗ trợ vốn vay tín dụng 100 triệu đồng/hộ và xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư hạ tầng và chính quyền cơ sở cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các khuyến nghị trên nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu đô thị hóa bền vững và an sinh lâu dài cho người dân mất đất.