Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km cùng diện tích vùng đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km², tạo tiền đề chiến lược cho sự bứt phá của ngành kinh tế thủy sản. Trong suốt 17 năm qua, sản lượng thủy sản toàn quốc duy trì mức tăng trưởng ấn tượng 9,07%/năm, riêng lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 12,77%/năm. Tại tỉnh Hà Tĩnh, huyện Lộc Hà là địa bàn ven biển trọng điểm với tổng diện tích tự nhiên 11.697,31 ha, bờ biển dài 12 km và dân số 79.855 người phân bổ trên 23.234 hộ gia đình. Quỹ đất nông nghiệp toàn huyện chiếm 8.052,57 ha (tương đương 68,84% diện tích tự nhiên), trong đó diện tích đất chuyên dùng cho nuôi trồng thủy sản đạt 318,29 ha, chiếm 2,72% tổng quỹ đất.

Mặc dù có nhiều tiềm năng về mặt nước mặn, lợ và ngọt, việc khai thác quỹ đất nuôi trồng thủy sản tại Lộc Hà đang đối mặt với nhiều thách thức gay gắt. Sức ép gia tăng dân số, biến đổi khí hậu cực đoan và việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp thiếu đồng bộ đã gây áp lực lớn lên hệ sinh thái ven bờ. Sản lượng thủy sản của huyện có sự biến động tiêu cực, giảm từ 1.600 tấn vào năm 2019 xuống còn 1.075 tấn vào năm 2021. Thực trạng này bắt nguồn từ kỹ thuật canh tác lạc hậu và cơ sở hạ tầng suy thoái. Do đó, việc nghiên cứu đề tài nhằm đánh giá khoa học hiệu quả sử dụng đất nuôi trồng thủy sản trên cả 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường trong giai đoạn 2019 - 2021 tại 5 xã trọng điểm gồm Hộ Độ, Thạch Mỹ, Thạch Châu, Ích Hậu và Hồng Lộc. Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn giúp chính quyền địa phương tái cấu trúc 318,29 ha đất nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích và bảo vệ môi trường sinh thái biển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển bền vững trong nông nghiệp theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), khẳng định hiệu quả sử dụng đất là sự thống nhất biện chứng giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết địa tô và phân bổ nguồn lực sản xuất của kinh tế học cổ điển để đánh giá mức độ tích tụ, tập trung đất đai và suất sinh lợi trên mỗi đơn vị diện tích mặt nước.

Về mặt khái niệm, đất nuôi trồng thủy sản được xác định theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, bao gồm đất có mặt nước nội địa, đất mặt nước ven biển và bãi bồi cửa sông được khai thác cho các thủy vực nuôi nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Phương thức nuôi được chuẩn hóa thành ba hình thức chính: quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh công nghệ cao. Hệ thống chỉ tiêu kinh tế nông hộ được xây dựng chặt chẽ xoay quanh các biến số: Giá trị sản xuất (GO), Chi phí trung gian (IC), Giá trị gia tăng (VA = GO - IC), Thu nhập hỗn hợp (MI = GO - Tổng chi phí) và Lợi nhuận thuần (Pr). Định mức khấu hao tài sản cố định như bờ kè, cống cấp thoát nước, máy sục khí và trạm bơm được trích lập chuẩn xác căn cứ theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính với khung hao mòn dao động từ 6 đến 30 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện điều tra thực địa với cỡ mẫu khảo sát là 100 hộ gia đình trực tiếp nuôi trồng thủy sản tại 5 xã có quy mô diện tích mặt nước lớn nhất huyện Lộc Hà: Hộ Độ (99,33 ha), Thạch Mỹ (70,76 ha), Thạch Châu (64,36 ha), Ích Hậu (28,56 ha) và Hồng Lộc (16,72 ha). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu hệ thống (systematic sampling) được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao. Toàn bộ mẫu được phân nhóm chi tiết theo tính chất nghề nghiệp (85 hộ chuyên nuôi trồng thủy sản và 15 hộ đa nghề) và theo phương thức canh tác (72 hộ bán thâm canh và 28 hộ thâm canh).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế hộ kết hợp thống kê mô tả là nhằm lượng hóa chính xác chi phí biến đổi và chi phí cố định phát sinh trong một chu kỳ sản xuất. Phương pháp này giúp tách bạch rõ ràng giữa chi phí trung gian và giá trị gia tăng thuần túy, phản ánh trung thực năng lực sinh lợi của từng mét vuông đất mặt nước. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lộc Hà giai đoạn 2019 - 2021. Nguồn dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua bộ phiếu phỏng vấn nông hộ trực tiếp trong năm 2021 và xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mô hình nuôi thâm canh tạo ra sự vượt trội rõ rệt về năng suất so với mô hình bán thâm canh. Năng suất nuôi thâm canh đạt mức bình quân 7,8 tấn/ha, trong khi hình thức bán thâm canh chỉ đạt 3,8 tấn/ha. Như vậy, năng suất của phương thức thâm canh cao hơn tới 105,26% so với bán thâm canh. Khi xét theo nhóm nghề, các hộ chuyên nuôi trồng thủy sản đạt năng suất bình quân 8,4 tấn/ha (dao động từ 2,4 đến 13,5 tấn/ha), vượt trội hơn 40,0% so với nhóm hộ làm đa nghề chỉ đạt 6,0 tấn/ha (dao động từ 1,2 đến 10,5 tấn/ha).

Thứ hai, tổng chi phí sản xuất bình quân của một hộ nuôi trồng thủy sản tại huyện Lộc Hà ở mức 577,51 triệu đồng/năm, với biên độ dao động rất rộng giữa hộ thấp nhất (351 triệu đồng) và hộ cao nhất (932 triệu đồng). Trong cơ cấu chi phí, thức ăn công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 35,74% (tương đương khoảng 206,4 triệu đồng). Tiếp theo là chi phí thuê đất và kiến thiết hạ tầng ao nuôi chiếm 16,76% (khoảng 96,8 triệu đồng), chi phí con giống chiếm 12,99% (khoảng 75,0 triệu đồng), chi phí thuê nhân công chiếm 10,17% (khoảng 58,75 triệu đồng) và chi phí vận hành máy móc thiết bị chiếm 3,55% (khoảng 20,5 triệu đồng).

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Toàn bộ 100 chủ hộ được khảo sát có độ tuổi trung bình lên tới 50 tuổi, trong đó 74,0% thuộc nhóm tuổi từ 45 đến 60 tuổi và 96,0% là nam giới. Về trình độ học vấn, có tới 89,0% chủ hộ chỉ có trình độ văn hóa từ phổ thông trở xuống, chỉ 3,0% có trình độ đại học. Đáng lưu ý, 73,0% chủ hộ chưa từng tham gia bất kỳ khóa đào tạo chuyên ngành nào về kỹ thuật thủy sản; 70,0% chỉ thỉnh thoảng mới tiếp cận các lớp tập huấn khuyến ngư và 46,0% rất ít khi tìm hiểu kiến thức kỹ thuật qua sách báo chuyên ngành.

Thứ tư, diện tích và sản lượng thủy sản toàn huyện có sự biến động không đồng nhất qua các năm. Giai đoạn 2019 - 2021, diện tích nuôi trồng biến động từ 495,01 ha (năm 2019) giảm xuống 453,47 ha (năm 2020) và tăng nhẹ lên 463,17 ha (năm 2021). Tuy nhiên, tổng sản lượng thủy sản năm 2021 chỉ đạt 1.075 tấn, sụt giảm 32,81% so với mức 1.600 tấn của năm 2019, trong đó sản lượng nuôi mặn giảm mạnh từ 1.316 tấn xuống chỉ còn 695 tấn.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch năng suất vượt bậc giữa thâm canh (7,8 tấn/ha) và bán thâm canh (3,8 tấn/ha) phản ánh quy luật đầu tư thâm dụng vốn và công nghệ. Mô hình thâm canh cho phép kiểm soát hoàn toàn mật độ thả, chất lượng nước qua hệ thống quạt khí và dinh dưỡng công nghiệp, giúp triệt tiêu rủi ro môi trường. Ngược lại, hình thức bán thâm canh tại các xã như Hồng Lộc hay Ích Hậu phụ thuộc lớn vào nguồn nước tự nhiên và thức ăn bổ sung thô sơ, dẫn đến chu kỳ nuôi kéo dài và tỷ lệ hao hụt cao.

Gánh nặng chi phí thức ăn chiếm 35,74% và con giống chiếm 12,99% cho thấy tính chất nhạy cảm của người nuôi trước biến động thị trường đầu vào. Khi giá thức ăn nhập khẩu tăng cao, các hộ thiếu vốn buộc phải cắt giảm khẩu phần hoặc sử dụng thức ăn kém chất lượng, trực tiếp làm suy giảm sản lượng. Bên cạnh đó, việc 73,0% người nuôi thiếu kiến thức kỹ thuật bài bản dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh và hóa chất xử lý đáy ao khi gặp sự cố dịch bệnh, gây ô nhiễm cục bộ nguồn nước các nhánh sông đổ ra Cửa Sót.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng chặt chẽ với các công trình khoa học của Đồng Thị Dung (2017) tại huyện Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam) và nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thy (2022) tại huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An). Các tác giả đều khẳng định rằng chuyển dịch từ nuôi truyền thống sang thâm canh công nghệ cao là con đường duy nhất để gia tăng giá trị gia tăng (VA) trên mỗi đơn vị diện tích mặt nước, song đòi hỏi hạ tầng vùng nuôi phải được đầu tư khép kín.

Trong thực tế phân tích dữ liệu, các biến số kinh tế này được mô tả tối ưu qua hai dạng hiển thị trực quan: biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 6 nhóm chi phí đầu vào để làm nổi bật tỷ trọng chi phối của chi phí thức ăn (35,74%), và biểu đồ cột nhóm hiển thị song song mối tương quan giữa mức độ đầu tư chi phí và giá trị sản xuất thu được trên 1 ha mặt nước giữa hai nhóm nuôi thâm canh và bán thâm canh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch lại không gian và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật vùng nuôi tập trung. Ủy ban nhân dân huyện Lộc Hà cần chủ trì rà soát toàn diện 318,29 ha đất nuôi trồng thủy sản hiện có, ưu tiên phân bổ ngân sách giai đoạn 2023 - 2025 để kiên cố hóa hệ thống đê bao và xây dựng mạng lưới kênh cấp nước, kênh thoát thải riêng biệt tại các xã trọng điểm như Hộ Độ, Thạch Mỹ và Thạch Châu. Phấn đấu đến cuối năm 2025, 100% các vùng nuôi tôm thâm canh tập trung phải sở hữu ao lắng lọc và hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi xả ra môi trường.

Thứ hai, chuẩn hóa năng lực quản trị kỹ thuật cho các chủ hộ nuôi trồng thủy sản. Trạm Khuyến nông huyện phối hợp với Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh triển khai các chương trình đào tạo nghề thực hành tại hiện trường, chuyển giao quy trình nuôi tôm an toàn sinh học theo tiêu chuẩn VietGAP. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ chủ hộ được đào tạo bài bản từ mức 27,0% hiện tại lên tối thiểu 65,0% vào năm 2025, giúp nông hộ tối ưu hóa tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR), kéo giảm tỷ trọng chi phí thức ăn từ 35,74% xuống dưới mức 30,0% tổng chi phí sản xuất.

Thứ ba, hoàn thiện chính sách giao đất, cho thuê đất và khơi thông nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lộc Hà cần tham mưu điều chỉnh thời hạn cho thuê đất công ích đối với diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản từ chu kỳ ngắn 5 năm lên khung thời hạn từ 20 đến 30 năm theo tinh thần Luật Đất đai. Điều này giúp các hộ yên tâm đầu tư tài sản cố định dài hạn. Đồng thời, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Lộc Hà cần thiết kế các gói tín dụng trung và dài hạn với hạn mức vay từ 300 đến 500 triệu đồng/hộ, áp dụng lãi suất ưu đãi theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP để hỗ trợ chuyển đổi từ bán thâm canh lên thâm canh.

Thứ tư, phát triển các hình thức kinh tế tập thể và liên kết tiêu thụ theo chuỗi giá trị OCOP. Ủy ban nhân dân các xã phối hợp với Hội Nông dân thành lập tối thiểu 3 hợp tác xã dịch vụ thủy sản kiểu mới tại Hộ Độ, Mai Phụ và Thạch Kim trong giai đoạn 2024 - 2026. Hợp tác xã sẽ đóng vai trò đầu mối nhập con giống kiểm dịch, mua thức ăn tận gốc để hạ giá thành, đồng thời bao tiêu sản phẩm trực tiếp cho các khu du lịch biển Cửa Sót và hệ thống bán lẻ cao cấp, phấn đấu nâng giá trị tăng thêm (VA) trên mỗi hecta đất nuôi trồng lên thêm 20,0% đến 25,0% vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và nông nghiệp tại địa phương (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lộc Hà, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh). Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về quỹ đất 318,29 ha để phục vụ công tác lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2021 - 2030, hỗ trợ ban hành chính sách cấp hạn điền và giao đất nuôi trồng thủy sản dài hạn cho người dân.

Nhóm thứ hai là các chủ trang trại, hộ gia đình trực tiếp nuôi trồng thủy sản tại khu vực duyên hải miền Trung. Người nuôi có thể sử dụng bức tranh cơ cấu chi phí định chuẩn với tổng mức 577,51 triệu đồng/năm để tái cơ cấu vốn đầu tư, tối ưu hóa lượng thức ăn (chiếm 35,74%) và mạnh dạn chuyển đổi phương thức sản xuất từ bán thâm canh (3,8 tấn/ha) sang thâm canh (7,8 tấn/ha) nhằm nâng cao lợi nhuận.

Nhóm thứ ba gồm các nhà khoa học, giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp và Nuôi trồng thủy sản. Công trình này là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp hạch toán kinh tế hộ nông dân, cách tiếp cận hệ thống chỉ tiêu GO, IC, VA, MI và kỹ thuật chọn mẫu điều tra 100 hộ nông hộ trong điều kiện thực địa phức tạp.

Nhóm thứ tư là các tổ chức tín dụng nông thôn, doanh nghiệp cung ứng vật tư thủy sản và hiệp hội ngành nghề. Báo cáo cung cấp căn cứ xác thực về nhu cầu vốn lưu động, chu kỳ dòng tiền và tỷ suất hoàn vốn của hộ nuôi, giúp ngân hàng xây dựng các gói vay thế chấp bằng tài sản nuôi và giúp doanh nghiệp cung ứng thức ăn, con giống hoạch định chiến lược phân phối tại thị trường Hà Tĩnh.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến năng suất nuôi thâm canh cao hơn 105,26% so với bán thâm canh tại Lộc Hà là gì? Mô hình thâm canh đạt năng suất 7,8 tấn/ha nhờ mật độ thả dày, sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp chất lượng cao kết hợp hệ thống quạt nước oxy liên tục. Trong khi đó, bán thâm canh chỉ đạt 3,8 tấn/ha do phụ thuộc một nửa vào thức ăn tự nhiên, ao nuôi thiết kế đơn sơ và khả năng phòng ngừa dịch bệnh từ nguồn nước sông Cửa Sót còn rất thấp.

Vì sao chi phí thức ăn lại chiếm tỷ trọng áp đảo tới 35,74% trong cơ cấu sản xuất của nông hộ? Nuôi thủy sản thương phẩm, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng, đòi hỏi nguồn đạm công nghiệp hàm lượng cao trong suốt chu kỳ nuôi để đảm bảo tốc độ tăng trọng. Với chi phí bình quân 206,4 triệu đồng/hộ/năm trên tổng mức chi 577,51 triệu đồng, giá thức ăn nhập khẩu leo thang cùng việc cho ăn thủ công thiếu định lượng chính xác đã đẩy tỷ trọng chi phí này lên mức cao nhất.

Trình độ học vấn của người dân ảnh hưởng tiêu cực như thế nào đến hiệu quả sử dụng đất nuôi trồng thủy sản? Có tới 89,0% chủ hộ chỉ có trình độ phổ thông và 73,0% chưa từng qua đào tạo chuyên môn, khiến người dân chủ yếu sản xuất theo thói quen truyền thống. Khi phát sinh dịch bệnh hoại tử gan tụy hay đốm trắng, người nuôi lúng túng trong việc kiểm soát các chỉ số thủy hóa môi trường nước, dẫn đến tình trạng dịch bệnh lây lan diện rộng làm giảm mạnh sản lượng toàn huyện.

Luận văn đã áp dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát như thế nào để đảm bảo tính khách quan khoa học? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu hệ thống tại 5 xã đại diện với cỡ mẫu chuẩn 100 hộ. Danh sách hộ được sàng lọc kỹ lưỡng, chia theo ngành nghề (85 hộ chuyên nghiệp, 15 hộ đa nghề) và phân loại theo hình thức canh tác (72 hộ bán thâm canh, 28 hộ thâm canh), loại bỏ các thôn có diện tích dưới 2 ha để đảm bảo độ tin cậy.

Chính sách cho thuê đất mặt nước thời hạn ngắn 5 năm đang tạo ra rào cản gì cho ngành thủy sản Lộc Hà? Chu kỳ thuê đất 5 năm là quá ngắn so với thời gian khấu hao tài sản cố định từ 6 đến 30 năm theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC. Người nuôi lo ngại rủi ro bị thu hồi đất khi hết hạn hợp đồng nên không dám vay vốn lớn để lót bạt đáy ao, xây trạm bơm hay lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, khiến sản xuất mãi dừng ở quy mô manh mún.

Kết luận

  • Xác lập hệ thống dữ liệu hiện trạng sử dụng 318,29 ha đất nuôi trồng thủy sản tại huyện Lộc Hà, nằm trong tổng thể 8.052,57 ha đất nông nghiệp toàn huyện.
  • Chứng minh tính ưu việt của phương thức nuôi thâm canh với năng suất bình quân 7,8 tấn/ha, vượt trội hoàn toàn so với mức 3,8 tấn/ha của mô hình bán thâm canh.
  • Lượng hóa chi tiết cấu trúc chi phí sản xuất bình quân 577,51 triệu đồng/hộ/năm, nhận diện chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 35,74%.
  • Phân tích rõ nút thắt về chất lượng lao động địa phương khi có tới 73,0% chủ hộ chưa qua đào tạo chuyên môn và 89,0% có trình độ học vấn phổ thông trở xuống.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, nâng cao kỹ thuật thực hành, nới rộng thời hạn thuê đất từ 20 đến 30 năm và xây dựng chuỗi liên kết OCOP cho giai đoạn 2023 - 2030.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lâm Ngọc Hùng đã đóng góp một hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc, làm sáng tỏ mối liên hệ giữa cơ chế quản lý đất đai và hiệu quả kinh tế nông hộ tại vùng duyên hải Hà Tĩnh. Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, các cơ quan ban ngành huyện Lộc Hà cần nhanh chóng ban hành đề án tái cơ cấu ngành thủy sản đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Quý độc giả, các nhà quản lý và bà con nông dân hãy chủ động tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu này để áp dụng hiệu quả vào công tác quy hoạch đất đai và tối ưu hóa mô hình canh tác tại địa phương.