Tổng quan nghiên cứu

Trong xu thế đổi mới giáo dục đại học theo phương thức tín chỉ, năng lực tự học của người học đóng vai trò quyết định chất lượng đào tạo toàn diện. Tại Trường Đại học Văn hoá Hà Nội với quy mô hơn 8.022 sinh viên và đội ngũ 300 cán bộ, giảng viên, việc chuyển đổi mô hình đào tạo đòi hỏi sinh viên phải đầu tư từ 2 đến 3 giờ tự học cho mỗi giờ học lý thuyết trên giảng đường. Mặc dù có tới 75.7% sinh viên nhận thức được tầm quan trọng cốt lõi của hoạt động tự nghiên cứu, thực tế triển khai vẫn còn nhiều bất cập khi 49.3% sinh viên chỉ dành 1 đến 2 giờ mỗi ngày để tự học và 54% tự đánh giá hiệu quả tự học chỉ ở mức trung bình.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của phương thức đào tạo tín chỉ với thói quen học tập thụ động, thiếu kế hoạch của sinh viên. Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tự học và công tác quản lý hoạt động tự học của nhà trường trong giai đoạn từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2019. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc xây dựng hệ thống biện pháp quản lý đồng bộ, khoa học, có tính khả thi cao nhằm nâng cao năng lực tự học của sinh viên. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp cải thiện kết quả học tập cho hơn 8.000 người học, đồng thời cung cấp khung tham chiếu quản lý chuẩn hóa cho các cơ sở giáo dục đại học khối ngành văn hóa - nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý tổ chức của Henri Fayol với 5 chức năng cơ bản gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phối và kiểm tra, kết hợp cùng lý thuyết quản trị hiện đại của Harold Koontz về xây dựng môi trường học tập hiệu quả. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết tâm lý học giáo dục của Geoffrey Petty về động cơ học tập nội sinh và khung chiến lược tư duy 5 bước của Robert Fisher. Hệ thống khái niệm công cụ được chuẩn hóa bao gồm: quản lý giáo dục, hoạt động tự học của sinh viên đại học, quản lý hoạt động tự học và động cơ học tập. Nghiên cứu được định hướng bởi các văn bản pháp lý then chốt: Luật Giáo dục, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng Quy chế đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ khảo sát thực địa bằng bảng hỏi cấu trúc kết hợp với quan sát sư phạm trực tiếp, cùng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết đào tạo thường niên của Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Tổng cỡ mẫu khảo sát là 180 khách thể, bao gồm 140 sinh viên chính quy chiếm tỷ lệ 77.8% và 40 cán bộ quản lý, giảng viên chiếm tỷ lệ 22.2%. Cơ cấu mẫu phân bổ gồm 43.1% nam giới (79 người) và 56.9% nữ giới (101 người).

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các khoa chuyên ngành và các bậc đào tạo tại trường. Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên ngành SPSS phiên bản 22.0. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, tính điểm trung bình thang đo 5 mức độ và phân tích tương quan tỷ lệ phần trăm giúp phản ánh trung thực, khách quan thực trạng tự học và công tác quản lý đào tạo trong mốc thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế giai đoạn 2017 - 2019 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hoạt động tự học và công tác quản lý tại trường:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức và hành động thực tế của người học. Có 75.7% sinh viên đánh giá tự học là rất cần thiết và 90% cán bộ quản lý, giảng viên khẳng định việc quản lý tự học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, có tới 51.7% sinh viên chỉ tự học thụ động theo yêu cầu của giảng viên, 7.1% chỉ học thuộc lòng nguyên văn giáo trình và chỉ có 17.8% sinh viên chủ động kết hợp nghiên cứu giáo trình với tài liệu tham khảo mở rộng.

Thứ hai, thời lượng và mức độ sẵn sàng cho giờ học còn rất hạn chế. Khoảng 49.3% sinh viên chỉ dành từ 1 đến 2 giờ mỗi ngày cho việc tự học, trong khi tỷ lệ sinh viên tự học trên 4 giờ mỗi ngày chỉ đạt vỏn vẹn 8.7%. Đáng chú ý, có 41.4% sinh viên thừa nhận rất thường xuyên không đọc tài liệu trước khi lên lớp, dẫn đến điểm trung bình tính tích cực chuẩn bị bài chỉ đạt mức thấp là 2.59 trên thang điểm 5.00.

Thứ ba, hiệu quả tự học tự đánh giá chưa cao. Tỷ lệ sinh viên tự xếp loại hiệu quả tự học ở mức trung bình chiếm tới 54%, loại khá chiếm 29%, loại yếu chiếm 6% và chỉ có 11% sinh viên tự tin đánh giá đạt mức tốt.

Thứ tư, công tác quản lý và hỗ trợ tự học còn mất cân đối giữa lý thuyết và thực hành. Nội dung giáo dục truyền thống và mục tiêu đào tạo đạt mức đánh giá tốt chiếm 75% với điểm trung bình 3.50/5.00. Ngược lại, hoạt động tổ chức cho sinh viên trải nghiệm nghề nghiệp thực tế để tự học đạt mức đánh giá tốt rất thấp chỉ 5%, với điểm trung bình thấp nhất toàn diện là 1.60/5.00.

+-------------------------------------------------------------------------+
|     SO SÁNH NHẬN THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN (N = 140)       |
+-------------------------------------------------------------------------+
| Nhận thức tự học "Rất cần thiết"      : [75.7%] =====================   |
| Chủ động đọc tài liệu tham khảo ngoài : [17.8%] =====                   |
| Thời gian tự học dưới 2 giờ/ngày      : [49.3%] =============           |
| Tự học chuyên sâu trên 4 giờ/ngày     : [ 8.7%] ==                      |
| Tự đánh giá hiệu quả mức Trung bình   : [54.0%] ==============          |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc sinh viên chưa hình thành kỹ năng quản lý thời gian khoa học và chưa xác định rõ động cơ học tập nội tại. Sinh viên dành nhiều thời gian cho các hoạt động giải trí hoặc làm thêm ngoài giờ mà thiếu lộ trình tự nghiên cứu bài bản. Về phía nhà trường, cơ sở vật chất phục vụ tự học còn nhiều điểm nghẽn: thư viện trường sở hữu gần 8.300 đầu sách nhưng chưa mở cửa vào các ngày nghỉ cuối tuần và phòng đọc còn hạn chế diện tích, làm giảm 30% đến 40% cơ hội tiếp cận tài liệu của sinh viên.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Dương Thị Linh (2010) và Nguyễn Bá Khương (2012), phản ánh tình trạng sinh viên học theo phương thức tín chỉ nhưng vẫn giữ thói quen thụ động từ bậc phổ thông. Dữ liệu khảo sát có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ chênh lệch giữa tỷ lệ nhận thức 75.7% với tỷ lệ hành động thực tế 17.8%, cùng biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu phân bổ thời gian tự học trong ngày nhằm làm rõ sự cần thiết phải can thiệp quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá: Ban Giám hiệu chỉ đạo 100% giảng viên chuyển đổi từ lối truyền thụ một chiều sang giao nhiệm vụ tự học có hướng dẫn; tăng cường thảo luận chuyên đề và bài tập tình huống thực tế. Điều chỉnh quy chế đánh giá học phần theo hướng nâng tỷ trọng điểm kiểm tra quá trình và tự nghiên cứu lên 30% - 40% tổng điểm môn học, hoàn thành áp dụng trong năm học mới.

  2. Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng và trải nghiệm nghề nghiệp: Phòng Đào tạo phối hợp với các Khoa chuyên môn tổ chức khóa đào tạo kỹ năng tự học, kỹ năng quản lý thời gian và phương pháp nghiên cứu khoa học cho 100% sinh viên năm thứ nhất. Đồng thời, nâng số lượng chương trình thực tế chuyên ngành từ 1 đợt lên ít nhất 2 đợt mỗi năm, nâng điểm đánh giá trải nghiệm thực tế từ 1.60 lên mức trên 3.50 điểm.

  3. Nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất và nguồn học liệu số: Phòng Quản trị thiết bị và Thư viện triển khai số hóa tài nguyên học tập, gia tăng quy mô từ 8.300 đầu sách in hiện tại lên hơn 15.000 tài liệu số truy cập trực tuyến. Mở rộng khung giờ phục vụ của thư viện thêm 2 ngày cuối tuần trong vòng 6 tháng tới để đáp ứng tối đa nhu cầu của 8.000 người học.

  4. Xây dựng cơ chế phối hợp quản lý đồng bộ: Thiết lập quy chế liên kết chặt chẽ giữa Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo, Cố vấn học tập và Ban Quản lý Ký túc xá. Đưa tiêu chí tự học thành một chỉ số đánh giá thi đua bắt buộc đối với từng tập thể lớp và giảng viên định kỳ mỗi học kỳ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ quản lý giáo dục đại học và cao đẳng: Cung cấp khung mô hình quản lý đồng bộ từ khâu lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực đến giám sát đánh giá, hỗ trợ ban lãnh đạo tối ưu hóa quy trình vận hành đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

  2. Giảng viên các trường đại học khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế đề cương học phần, phân chia khối lượng tự học có hướng dẫn và xây dựng ngân hàng bài tập kích thích tư duy độc lập của người học.

  3. Sinh viên các trường đại học trên cả nước: Giúp người học nhận diện rõ các rào cản tâm lý, thói quen trì hoãn, từ đó học hỏi phương pháp lập thời gian biểu khoa học để nâng thời lượng tự học lên trên 3 giờ mỗi ngày.

  4. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý giáo dục: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định lượng, kỹ thuật xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 22.0 và hệ thống bảng hỏi khảo sát thực trạng học tập.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao sinh viên đào tạo theo hệ thống tín chỉ vẫn gặp khó khăn lớn trong hoạt động tự học? Nguyên nhân chủ yếu do sinh viên chưa thích ứng kịp với phương thức học đại học, thiếu kỹ năng lập kế hoạch và quản lý thời gian. Số liệu chỉ ra 49.3% sinh viên chỉ học 1 đến 2 giờ mỗi ngày và 51.7% chỉ học theo yêu cầu trực tiếp của giảng viên thay vì chủ động nghiên cứu.

  2. Đâu là rào cản quản lý lớn nhất làm giảm hiệu quả tự học của sinh viên? Rào cản lớn nhất nằm ở sự thiếu hụt các hoạt động trải nghiệm thực tế gắn liền với chuyên ngành đào tạo. Thực tế khảo sát cho thấy chỉ tiêu quản lý cho sinh viên trải nghiệm nghề nghiệp đạt điểm trung bình thấp kỷ lục là 1.60/5.00, khiến sinh viên thiếu động lực gắn kết lý thuyết với thực tiễn.

  3. Mô hình tự học có hướng dẫn mang lại ưu thế gì vượt trội so với tự học cá nhân thuần túy? Tự học có hướng dẫn kết hợp linh hoạt vai trò định hướng của giảng viên với tính chủ động của sinh viên. Mô hình này giúp giải quyết dứt điểm tình trạng 41.4% sinh viên không đọc tài liệu trước giờ lên lớp nhờ các phiếu giao việc và tiêu chí đánh giá minh bạch.

  4. Cơ sở vật chất của thư viện ảnh hưởng trực tiếp thế nào đến chất lượng tự học? Hạ tầng thư viện quyết định không gian và nguồn tài nguyên tiếp cận tri thức. Việc thư viện trường chỉ có 8.300 cuốn sách và đóng cửa vào ngày nghỉ cuối tuần đã tước đi cơ hội học tập tập trung ngoài giờ của hơn 70% sinh viên có nhu cầu.

  5. Cần áp dụng tiêu chí nào để đánh giá chính xác kết quả tự học của người học? Nhà trường cần sử dụng hệ thống đánh giá quá trình đa chiều, bao gồm kết quả bài tập nhóm, báo cáo chuyên đề, mức độ chuẩn bị bài trên lớp và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế, chiếm tỷ trọng từ 30% đến 40% điểm tổng kết học phần.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong bối cảnh đào tạo tín chỉ tại cơ sở giáo dục đại học.
  • Phân tích số liệu khảo sát 180 khách thể tại Trường Đại học Văn hoá Hà Nội phản ánh rõ nét thực trạng nhận thức cao đạt 75.7% nhưng thực hành tự học còn yếu với 49.3% chỉ học dưới 2 giờ mỗi ngày.
  • Đánh giá khách quan 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng, làm sáng tỏ các điểm nghẽn về hạ tầng thư viện 8.300 đầu sách và công tác tổ chức trải nghiệm thực tế chỉ đạt điểm trung bình 1.60/5.00.
  • Đề xuất hệ thống 4 biện pháp quản lý khả thi, đồng bộ tác động trực tiếp vào phương pháp giảng dạy, cơ chế đánh giá học phần 30% - 40% và nguồn tài nguyên học liệu số.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn quan trọng, vạch rõ lộ trình triển khai chuẩn hóa công tác quản trị đại học giai đoạn 2020 - 2025.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và sinh viên đang tìm kiếm giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Hãy áp dụng ngay các biện pháp quản lý tự học khoa học để tối ưu hóa năng lực tự học của người học trong thời đại số.