Luận văn quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh tiểu học tại huyện Si Ma Cai, Lào Cai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm tại huyện Si Ma Cai, Lào

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Tác giả

Phạm Văn Tiếp

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh tiểu học huyện Si Ma Cai

Năng lực hợp tác là một trong những năng lực cốt lõi được Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 xác định rõ ràng. Đối với học sinh tiểu học huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai, việc phát triển năng lực này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Địa bàn miền núi với nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặt ra những thách thức riêng biệt trong công tác giáo dục. Học sinh nơi đây cần được trang bị kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và giải quyết mâu thuẫn ngay từ bậc tiểu học. Hoạt động trải nghiệm được xem là con đường hiệu quả nhất để phát triển năng lực hợp tác. Thông qua các hoạt động thực tiễn, học sinh học cách lắng nghe, chia sẻ và cùng nhau hoàn thành mục tiêu chung. Quản lý phát triển năng lực hợp tác thông qua hoạt động trải nghiệm đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Giám hiệu, giáo viên và phụ huynh. Nghiên cứu của Phạm Văn Tiếp (2024) tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề này, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với đặc thù địa phương.

1.1. Khái niệm năng lực hợp tác trong giáo dục tiểu học

Năng lực hợp tác là khả năng cá nhân chủ động tham gia vào hoạt động tập thể, biết phân công nhiệm vụ, lắng nghe ý kiến người khác và cùng nhau giải quyết vấn đề hướng tới mục tiêu chung. Trong bối cảnh giáo dục tiểu học, năng lực này được biểu hiện qua ba nhóm kỹ năng cơ bản: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phân tích và phản hồi ý kiến, kỹ năng điều hành và phối hợp nhóm. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 xác định năng lực hợp tác là một thành phần của năng lực giao tiếp và hợp tác, thuộc nhóm năng lực chung cần hình thành xuyên suốt các cấp học.

1.2. Đặc điểm học sinh tiểu học huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

Huyện Si Ma Cai là địa bàn miền núi vùng cao biên giới tỉnh Lào Cai, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Học sinh tiểu học tại đây phần lớn thuộc các dân tộc Mông, Nùng, Tày với tiếng mẹ đẻ không phải tiếng Việt. Điều này tạo ra rào cản ngôn ngữ đáng kể trong giao tiếp và hợp tác nhóm. Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tham gia hoạt động trải nghiệm. Nhận thức rõ đặc điểm này giúp nhà quản lý thiết kế các hoạt động phù hợp, phát huy tối đa tiềm năng hợp tác vốn có của học sinh.

II. Phân tích thực trạng phát triển năng lực hợp tác qua hoạt động trải nghiệm tại trường tiểu học Si Ma Cai

Khảo sát thực trạng tại các trường tiểu học huyện Si Ma Cai cho thấy nhiều điểm đáng chú ý. Giáo viên đã nhận thức đúng đắn về vai trò của hoạt động trải nghiệm trong phát triển năng lực hợp tác. Tuy nhiên, việc tổ chức còn thiếu đồng bộ và chưa có kế hoạch quản lý rõ ràng. Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn phiếu đánh giá xác nhận hoạt động trải nghiệm là cần thiết hoặc rất cần thiết để phát triển các kỹ năng cụ thể: luân phiên điều hành nhóm, thay thế vai trò, đánh giá và phản biện ý kiến. Cụ thể, có 23 phiếu đánh giá hoạt động trải nghiệm rất cần thiết để học sinh luân phiên điều hành nhóm. Có 31 phiếu xác nhận sự cần thiết để học sinh đánh giá ý kiến của bạn học. Có 34 phiếu ghi nhận vai trò của hoạt động trải nghiệm trong việc giúp học sinh phản biện ý kiến nhóm khác. Những số liệu này phản ánh sự đồng thuận cao về tiềm năng của hoạt động trải nghiệm. Song thực tế triển khai vẫn còn khoảng cách so với kỳ vọng về chất lượng quản lý.

2.1. Những kết quả đạt được trong tổ chức hoạt động trải nghiệm

Các trường tiểu học huyện Si Ma Cai đã chú trọng tổ chức hoạt động trải nghiệm theo hướng phát triển năng lực. Nhiều giáo viên thiết kế được các hoạt động nhóm sáng tạo, phù hợp với lứa tuổi và điều kiện địa phương. Học sinh dần hình thành thói quen làm việc tập thể, biết lắng nghe và chia sẻ ý kiến. Hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân được triển khai khá rộng rãi. Giáo viên đóng vai trò quan sát và hỗ trợ thay vì áp đặt, tạo điều kiện cho học sinh tự khám phá và rút ra bài học từ thực tiễn.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý phát triển năng lực hợp tác

Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác quản lý phát triển năng lực hợp tác còn bộc lộ nhiều hạn chế. Kế hoạch tổ chức hoạt động trải nghiệm chưa được xây dựng bài bản và thiếu tính hệ thống. Việc kiểm tra, đánh giá kết quả phát triển năng lực hợp tác chưa có công cụ đo lường phù hợp. Rào cản ngôn ngữ khiến một số học sinh chưa tự tin tham gia hoạt động nhóm. Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nguồn lực tài chính hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng và sự đa dạng của hoạt động trải nghiệm được tổ chức.

III. Giải pháp quản lý phát triển năng lực hợp tác thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường tiểu học huyện Si Ma Cai

Từ phân tích thực trạng, các giải pháp quản lý cần được xây dựng toàn diện và có tính khả thi cao. Nhà trường phải xây dựng kế hoạch phát triển năng lực hợp tác thành một phần không thể tách rời của kế hoạch giáo dục năm học. Mỗi hoạt động trải nghiệm cần xác định rõ mục tiêu phát triển năng lực hợp tác cụ thể, phương thức tổ chức phù hợp và tiêu chí đánh giá minh bạch. Giáo viên cần được bồi dưỡng năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm theo hướng phát triển năng lực. Phương pháp học qua trải nghiệm không áp đặt lên người học; giáo viên chỉ gợi ý và hỗ trợ khi cần thiết, khuyến khích sáng tạo tối đa. Học sinh được tự do sử dụng phép thử để tìm ra hướng giải quyết phù hợp. Kết quả dù thành công hay thất bại đều là bài học quý. Cơ chế phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng địa phương cần được thể chế hóa nhằm tạo môi trường hợp tác liên tục, nhất quán cho học sinh.

3.1. Giải pháp về xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động trải nghiệm

Ban Giám hiệu cần chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm có lộ trình phát triển năng lực hợp tác theo từng khối lớp. Kế hoạch phải xác định rõ nội dung hoạt động, hình thức tổ chức, thời gian, nguồn lực và trách nhiệm cụ thể của từng bộ phận. Hoạt động cần đa dạng về hình thức: sinh hoạt tập thể, dự án nhóm, hoạt động ngoại khóa gắn với văn hóa địa phương. Đặc biệt, cần thiết kế các hoạt động phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số, kết hợp ngôn ngữ mẹ đẻ để vượt qua rào cản giao tiếp trong quá trình hợp tác nhóm.

3.2. Giải pháp về kiểm tra đánh giá và bồi dưỡng giáo viên

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác của học sinh theo từng mức độ rõ ràng, có thể quan sát và đo lường được. Sử dụng đa dạng hình thức đánh giá: quan sát trực tiếp, hồ sơ học tập, đánh giá đồng đẳng giữa học sinh. Tổ chức bồi dưỡng giáo viên định kỳ về thiết kế hoạt động trải nghiệm theo tiếp cận phát triển năng lực. Xây dựng cộng đồng học tập chuyên môn trong nhà trường để giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, cùng cải tiến phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực hợp tác hiệu quả hơn.

IV. Kết luận và ứng dụng quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh tiểu học huyện Si Ma Cai

Quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh tiểu học huyện Si Ma Cai thông qua hoạt động trải nghiệm là nhiệm vụ cấp thiết và có cơ sở khoa học vững chắc. Giáo viên tại địa phương đã nhận thức đúng đắn về tiềm năng của hoạt động trải nghiệm trong việc phát triển năng lực hợp tác. Đây là nền tảng thuận lợi để triển khai các giải pháp quản lý đồng bộ. Thực hiện tốt việc tổ chức hoạt động trải nghiệm không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức văn hóa mà còn hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất cần thiết của người công dân tương lai. Học sinh Si Ma Cai khi được phát triển năng lực hợp tác đầy đủ sẽ có khả năng thích ứng tốt hơn trong môi trường học tập và làm việc đa văn hóa. Những thói quen tốt được định hình từ bậc tiểu học sẽ tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của các em. Kết quả nghiên cứu của luận văn thạc sĩ này có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhà quản lý giáo dục ở các huyện miền núi có điều kiện tương đồng.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý phát triển năng lực hợp tác thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường tiểu học. Các khái niệm cốt lõi được làm rõ, bao gồm: năng lực hợp tác, học qua trải nghiệm, quản lý phát triển. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng tại huyện Si Ma Cai, chỉ ra các điểm mạnh cần phát huy và các hạn chế cần khắc phục. Đây là cơ sở để xây dựng các giải pháp quản lý phù hợp với đặc thù địa phương, có tính khả thi và hiệu quả cao trong thực tiễn giáo dục vùng dân tộc thiểu số.

4.2. Định hướng ứng dụng và phát triển trong tương lai

Các giải pháp quản lý được đề xuất cần được thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh phù hợp với từng trường tiểu học cụ thể trên địa bàn huyện Si Ma Cai. Cần mở rộng nghiên cứu sang các huyện miền núi khác của tỉnh Lào Cai để kiểm chứng tính phổ quát của kết quả. Ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi và đánh giá quá trình phát triển năng lực hợp tác là hướng đi tiềm năng. Sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong thiết kế hoạt động trải nghiệm sẽ làm tăng tính phù hợp văn hóa và hiệu quả phát triển năng lực hợp tác bền vững cho học sinh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/10/2026
Quản lý phát triển nlht cho học sinh thông qua hđtn ở các trường tiểu học huyện si ma cai tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài * Nghiên cứu về NLHT Tại các nước trên thế giới, vấn đề hợp tác và PT NLHT cho HS đã và đang được quan tâm nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học như: Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thử nghiệm và vận dụng học tập nhóm tại Anh quốc. Những thành viên trong nhóm cùng thảo luận, san se và đồng hành giải quyết các nội dung học tập, do vậy thu được kết quả tốt trong quá trình học tập nhóm.

Georg Michael Kerschensteiner: “Khi HS hoạt động từng nhóm thì không những nâng cao tinh thần đồng đội mà còn loại bỏ sự ích kỷ mà thay vào đó là tinh thần hỗ trợ nhau”. Tuy nhiên, Kerschensteiner lưu ý, nếu sử dụng không tốt hình thức dạy học này vẫn có thể dẫn tới một loạt ích kỉ đặc biệt - đó là ích kỉ cộng đồng. Roger Cousinet cho rằng việc tạo ra môi trường cho HS học tập tự do theo nhóm có lợi ích nhiều khi mà sẽ giúp cho HS hòa nhập cộng đồng, HS tăng tính chủ động, tham gia nhiều hơn vào hoạt động tập thể. Tác giả Geoffrey Petty thì khẳng định học qua dạng hợp tác nhóm sẽ tăng thêm hứng khởi và lý thú.

Sẽ là giúp ích rất lớn đối với HS còn rụt rè, ngần ngại, HS ít tiếp xúc với môi trường phức tạp. Như vậy, DHHT là quan điểm học tập rất phổ biến ở các nước có nền giáo dục PT trên thế giới và đem lại hiệu quả giáo dục không thể phủ nhận. * Nghiên cứu về HĐTN John Dewey đã bằng cách hiểu của mình để đề xuất cải tổ giáo dục theo hướng khuyến khích nhà trường tạo ra môi trường lý tưởng để người học phát huy năng lực, và trí tuệ của mình. Kolb cũng đưa ra nhiều thuyết về trải nghiệm: “Cung cấp thuyết cơ bản của HĐTN, mang đến mô hình học qua trải nghiệm để áp dụng vào nhà trường, tổ chức 6 kinh tế và trong các hoạt động mà đòi hỏi sự gắn kết.

Tác giả cũng đề xuất HĐTN có đặc điểm gì chi phối đến học tập, các bước trong quá trình học trải nghiệm”. Tại Hàn Quốc, HĐTN được thiết kế bắt đầu từ lớp 1 đến lớp 12. Quan điểm HĐTN tại Hàn Quốc là người tham gia độc lập, hoặc mô hình CLB và định hướng. Xem xét điều kiện của từng nhà trường mà áp dụng hoạt động nào phù hợp của HĐTN.

Ở Anh quốc, trong các chương trình học có nhiều tình huống đưa ra đòi hỏi HS vận dụng vào để GQVĐ nhằm đạt kết quả như đã đề ra. Còn ở nước Đức thì HS được các chủ thể quan tâm đến các khía cạnh như tính sáng tạo; hoạt động độc lập; tự rút ra bài học kinh nghiệm của chính mình. Ở Nhật Bản,hoạt động cơ bản đều dựa theo trải nghiệm thực tế của HS, từ đó tạo cơ hội cho HS tìm tòi, khám phá. *Các công trình nghiên cứu về NLHT cho học sinh tiểu học thông qua HĐTN Nghiên cứu phát triển năng lực làm việc nhóm qua học tập trải nghiệm, Kenneth W.

Hunter và đồng nghiệp (2001) đã dựa trên khung lý thuyết về học tập trải nghiệm để xây dựng quy trình phát triển năng lực hợp tác qua 4 bước: Xác định mục tiêu; Lựa chọn bài tập trải nghiệm trong chương trình; Lên khung cho các bài tập; Liên hệ với thực tế và nhấn mạnh vào việc áp dụng để rút ra kết luận. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa sử dụng phương pháp định lượng trong việc đo lường sự phát triển của năng lực này. Dựa trên mô hình CARB (Commitment to the team each other, Alignment and goal agreement, Relationships among team members, Behaviors and skills) trong làm việc nhóm, Eikenberry K. đã thiết kế các hoạt động học tập trải nghiệm thông qua những sự kiện truyền thống, hoạt động ngoại khoá, tham gia trong công việc và một số hoạt động khác để phát triển năng lực Hợp tác.

Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đo lường đánh giá mức độ phát triển năng lực này (Silberman, 2007). Tại Anh quốc, các nghiên cứu yêu cầu học sinh phải sử dụng nhiều tri thức, kĩ năng của mình để hợp tác giải quyết vấn đều nhằm đạt kết quả cao nhất; đồng thời cung cấp cho các em các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm. trong các chương trình trải nghiệm với đặc điểm là cung cấp hàng loạt tình huống cuộc sống thực tiễn hàng ngày cho học sinh. Các công trình nghiên cứu ở trong nước * Nghiên cứu về NLHT ở trong nước Ở trong nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu về PT NLHT như: Hoàng Lê Minh với tác phẩm “Hợp tác trong dạy học môn Toán” đã đưa ra vấn đề DHHT vừa có vai trò giúp HS tiếp thu kiến thức, vừa có chức năng giáo dục trong cuộc sống cho HS” [13, tr 25].

Nguyễn Thị Quỳnh Phương với đề tài “Rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho sinh viên đại học sư phạm trong hoạt động nhóm” đưa ra tổng thể NLHT của SV cần có hai mươi kỹ năng chia thành các nhóm: kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xây dựng. Hoàng Công Kiên đã nghiên cứu thành công chủ đề “Vận dụng DHHT trong môn Toán ở Tiểu học”. Tác giả chỉ ra những tồn tại, hạn chế của GV, HS và điều kiện CSVC khi vận dụng DHHT trong môn Toán ở Tiểu học. Từ đó đưa ra 04 điều kiện để DHHT có hiệu quả và đề xuất 03 biện pháp hỗ trợ giúp DHHT có hiệu quả cao hơn.

Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu khác vè dạy học hợp tác và học hợp tác, như bài viết “PT NLHT cho HS thông qua dạy học theo dự án với môn Toán ở trường Trung học phổ thông” của Trịnh Thanh Hải cùng đồng tác giả” [12, tr 30]. Từ những nghiên cứu đã hoàn thành cho chúng ta thấy về hợp tác và NLHT. Như vậy, có thể thấy rằng “NL hợp tác có vai trò rất quan trọng trong HĐ DH, đặc biệt với học môn Toán. Tuy nhiên, các công trình đã có chỉ tập trung khai thác vai trò của hợp tác và thúc đẩy kỹ năng hợp tác trong HĐ DH”.

* Nghiên cứu về HĐTN ở trong nước Vấn đề tổ chức HĐTN cho HS phổ thông từ cấp Tiểu học trở lên đã được nhiều tác giả nghiên cứu: Điển hình là sự đóng góp của các tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Thắng, Huỳnh Mộng Tuyền, Nguyễn Dục Quang, Đỗ Ngọc Thống, Bùi Sĩ Tụng, Lê Thanh Sử, Đinh Thị Kim Thoa… đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề về vị trí, mục tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức HĐTN, vai trò chủ thể của HS, các BP quản lí, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt HĐTN cho HS. Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Liên cho ra đời cuốn sách mang tựa đề “Tổ chức HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông”. Võ Trung Minh bàn luận với tựa đề“Vận dụng mô hình giáo dục trải nghiệm (David Kolb) trong dạy học ở tiểu học”. 8 Trong chương trình GDPT 2018 cho rằng: "HĐTN và hướng nghiệp góp phần hình thành, PT các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và các năng lực đặc thù cho HS; Nội dung hoạt động được xây dựng dựa trên các mối quan hệ của cá nhân HS với bản thân, với xã hội, với tự nhiên và với nghề nghiệp”.

Từ việc nghiên cứu có thể thấy, việc dạy học và PT NLHT từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm. Các công trình đã công bố chỉ tập trung vào nội dung lý thuyết chung và đưa ra các phương pháp tổ chức học tập tương tác trong môi trường học tập lý thuyết mà chưa có công trình nào đi sâu vào PT NLHT thông qua HĐTN. * Các công trình nghiên cứu về quản lý phát triển NLHT cho học sinh thông qua HĐTN Lê Thị Minh Hoa (2015) nghiên cứu phát triển năng lực hợp tác cho học sinh qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Nghiên cứu đề xuất 5 biện pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh được đề xuất.

Trong đó, các giải biện pháp chính gồm: sử dụng các tình huống giả định trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm tạo ra môi trường giải quyết vấn đề theo hướng hợp tác; Tạo môi trường trải nghiệm thực tế cho học sinh qua các hoạt động xã hội theo nhóm; Tổ chức các câu lạc bộ theo hướng tăng cường sự hợp tác. Kết quả thực nghiệm sư phạm bước đầu khẳng định các biện pháp giáo dục đã có tác động tích cực đến sự phát triển các thành tố cấu trúc của năng lực hợp tác cho học sinh. Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương (2015), nghiên cứu cấu trúc của năng lực hợp tác để thiết kế các tiêu chí, công cụ đánh giá và giải pháp phát triển năng lực hợp tác trong dạy học ở trường phổ thông. Kết quả đánh giá định lượng tổng hợp và định tính cá nhân cho thấy các học sinh đã phát triển năng lực hợp tác sau quá trình thực nghiệm.

Chúng ta thấy, có khá nhiều nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác và hoạt động trải nghiệm, tuy nghiên nghiên cứu phát triển NLHT thông qua HĐTN thì có rất ít. Đặc biệt là nghiên cứu với các địa bàn vùng núi, vùng sâu vùng xa có điều kiện khó khăn. Do vậy nghiên cứu phát triển NLHT thông qua HĐTN cho HS tại các trường TH trên địa bàn huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai là có ý nghĩa thực tiễn. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.

Năng lực, hợp tác, NLHT Năng lực: Năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh Competentia, còn trong tiếng Anh, có nhiều từ mang ý nghĩa như các từ Competence, Ability, Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality, Aptitude… Tuy nhiên, thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất vẫn là Competence (hoặc Competency). Tại Việt Nam, năng lực là khái niệm phổ biến trong nhiều lĩnh vực, cũng giống như tiếng Anh, trong tiếng Việt, từ NL rất gần nghĩa với một số từ khác như tiềm năng, khả năng, kĩ năng, tài năng, năng khiếu. Dù cách trình bày quan niệm về NL khác nhau do đứng từ các góc độ tiếp cận vấn đề không giống nhau nhưng có thể hiểu chung nhất như sau: “NL là khả năng thực hiện (performance), làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kĩ năng thuần thục và thái độ phù hợp. NL là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân”[16, tr 13).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Phạm Văn Tiếp (2024), Quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Phạm, V. T. (2024). Quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/quan-ly-phat-trien-nang-luc-hop-tac-cho-hoc-sinh-tieu-hoc-huyen-si-ma-cai/9883753744
IEEE
V. T. Phạm, "Quản lý phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/quan-ly-phat-trien-nang-luc-hop-tac-cho-hoc-sinh-tieu-hoc-huyen-si-ma-cai/9883753744

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác