Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong trường Đại học. Thực trạng quản lý hoạt động quản lý hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội. Biện pháp quản lý hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Nhìn chung, vấn đề quản lý hoạt động Đoàn TNCS HCM trong trường Đại học tuy không phải là một vấn đề mới và cũng đã được đề cập đến từ nhiều khía cạnh khác nhau. Đã có nhiều các công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề đổi mới phương thức hoạt động cho tổ chức Đoàn, có thể kể đến như: Đề tài luận văn thạc sỹ QLGD – Khoa Sư Phạm, ĐHQGHN “Những giải pháp quản lý công tác Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh khối trường trung học phổ thông huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay” tác giả Nguyễn Anh Tuấn, năm 2007 đã đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động Đoàn TNCS HCM cho khối trường trung học phổ thông tại huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam. Đề tài luận văn thạc sỹ QLGD “Tổ chức hoạt động phong trào cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình” tác giả Phạm Thành Khánh, năm 2010 Đề tài đã đề ra được vai trò quan trọng của Đoàn Thanh niên trong giáo dục sinh viên và đề xuất được một số các biện pháp để quản lý hoạt động phong trào tại trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình.
Đề tài luận văn thạc sỹ QLGD “Quản lý hoạt động phong trào của sinh viên trường cao đẳng công nghệ Việt Đức”, tác giả Hoàng Văn Quân, năm 2012. Đề tài đã đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động phong trào tại khối trường Kỹ thuật mà cụ thể là trường Cao đẳng công nghệ Việt Đức. Khảo sát các nghiên cứu trên có thể rút ra những nhận xét như sau: - Nghiên cứu hoạt động phong trào ở trường phổ thông nhấn mạnh vai trò chủ thể trong hoạt động tập thể. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nghiên cứu đề cập đến các hình thức tổ chức hoạt động phong trào.
- Nghiên cứu về Đoàn TNCS HCM trong khối trường học, đặc biệt là công tác đoàn trong khối trường phổ thông Như vậy, những công trình nghiên cứu đã gợi mở nhiều ý tưởng nghiên cứu sáng tạo, cũng như đã đưa ra nhiều nghiên cứu rõ ràng hơn về lý luận thực tiễn cũng như cung cấp các khái niệm cơ bản đầu tiên. Chưa có đề tài nghiên cứu làm nổi bật tầm quan trọng vai trò của các hoạt động Đoàn trong việc hình thành nhân cách sinh viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tòan diện tại các trường Đại học trong bối cảnh hiện nay. Trên tinh thần kế thừa và phát huy tính tích cực của các tác giả đi trước, tôi nhận thấy việc nghiên cứu về hoạt động Đoàn trong khối trường Đại học đào tạo sư phạm - đào tạo ra những cán bộ giáo dục có trình độ, bên cạnh đó phải có những kỹ năng hoạt động xã hội, hoạt động phong trào. Chính vì vậy việc giúp cho sinh viên nhà trường làm quen với các hoạt động Đoàn, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường không những giúp sinh viên có hứng thú học tập các môn chính khóa mà còn thông qua các hoạt động này tạo điều kiện cho sinh viên có những hoạt động thực tiễn nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh sau này, đáp ứng phương huớng đổi mới hoạt động dạy học trong nhà trường hiện nay.
Về các biện pháp quản lý hoạt động Đoàn, với đặc thù của mỗi đơn vị có sự khác biệt nhất định mà thực trạng hoạt động Đoàn trong các trường cũng đòi hỏi phải hoàn thiện các biện pháp quản lý phù hợp với đặc thù của đơn vị, nhất là khối trường Đại học chuyên sâu về sư phạm và có mô hình đào tạo đặc thù như Đại học Giáo dục, nên tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Giáo dục 1. Quản lý 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm quản lý Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định.
Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển cả một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Đó là những hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quản lý. Theo sự phân tích của C.Mác thì: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến sự chỉ đạo, điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [4, tr. Các nhà nghiên cứu lý luận quản lý trên thế giới như Fredrích WiLiam Taylor (1856-1915), người Mỹ; Max Weber (1964 -1920) người Đức đều khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội; Theo tác giả Nguyễn Thị Đoan: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển phối hợp kiểm tra.
Về khái niệm quản lý, hiện nay còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau: - Theo Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: “Quản lý là việc tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [ 12, tr. - Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu trong tổ chức) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [23, tr. Theo quan điểm của Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [18, tr. Theo quan điểm tiếp cận hệ thống: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt các mục đích đã định” [26, tr16].
- Theo góc độ kinh tế: “Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [11, tr. - Theo góc độ hành động: “Quản lý là quá trình điều khiển trong đó chủ thể quản lý điều khiển đối tượng quản lý để đạt tới các mục tiêu đề ra”[ 11, tr. Qua những cách tiếp cận trên, chúng ta có thể quan niệm: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [11, tr. Như vậy, có thể hiểu hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Các chức năng của quản lý Quản lý được xem là một nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất định, một nhóm người để đạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung của tổ chức. Đó là cơ sở hình thành các chức năng của quản lý.
Có bốn chức năng cơ bản của quản lý là: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra. Các chức năng này có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán. - Chức năng lập kế hoạch: Lập kế hoạch là việc xác định mục tiêu cho bộ máy, xác định các bước đi để tiến đến mục tiêu, xác định nguồn lực và các biện pháp để thực hiện mục tiêu. Khi thực hiện chức năng này chú ý đến nguyên tắc, tính mục đích và hệ thống các văn bản chỉ đạo của ngành, chính sách pháp luật của nhà nước.
- Chức năng tổ chức: Tổ chức: là quá trình thiết lập cơ cấu tổ chức, bố trí nguồn nhân lực phù hợp với các mục tiêu, là việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận, các thành viên trong tổ chức, đồng thời thiết lập mối quan hệ hữu cơ giữa chúng trong quá trình hoạt động. - Chức năng chỉ đạo, lãnh đạo: Chức năng này gắn liền với việc thực hiện các hành vi (như ban hành các quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh hay thực hiện việc động viên, khuyến khích) nhằm tạo động lực thúc đẩy các bộ phận, các thành viên trong tổ chức tự giác, tích cực thực hiện các mục tiêu đề ra. Khi bước lập kế hoạch hoàn thành, cơ cấu tổ chức bộ máy đã hình thành nhân lực, vật lực và tài lực đã chuẩn bị đầy đủ thì phải có người lãnh đạo vận hành tác nghiệp, điều chỉnh, điều hành hoạt động của tổ chức thực hiện đúng kế hoạch đã đặt ra để mục tiêu trong dự kiến trở thành hiện thực. Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là việc tác động lên con người, khơi 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.