Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tại các TTHTCĐ. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tại các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tại các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Mô hình TTHTCĐ đã được xây dựng và phát triển từ rất sớm ở một số quốc gia, đặc biệt là ở Nhật Bản và đã có những thành tựu đáng kể trong việc tạo cơ hội học tập suốt đời, nâng cao dân trí, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Khái quát lịch sử phát triển mô hình TTHTCĐ ở khu vực Châu Á, có một số tài liệu của UNESCO Nhật Bản đã nghiên cứu nội dung này. Trung tâm học tập cộng đồng ở Nhật Bản Được phát triển từ thế kỷ thứ XVII, thời kỳ này Nhật Bản có 15.000 Tê - ra-kô-ya (trung tâm học tập), đây là hình thức tổ chức học tập tự phát do dân chúng đứng ra thành lập.
Sau Chiến tranh thế giới 2, trên cơ sở nghiên cứu các Tê-ra-kô-ya Chính phủ Nhật Bản đã khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục mới, những cơ sở giáo dục này được gọi là Kô-min-kan(Trung tâm học tập cộng đồng hay Nhà văn hóa của nhân dân). Sự ra đời và những hoạt động của các Kô-mi-kan đã trở thành một hệ thống phát triển rộng khắp đất nước và đặt nền móng, tạo diện mạo cho hệ thống giáo dục ưu việt của Nhật Bản ngày nay. Để phát triển bền vững và tăng cường năng lực quản lý mô hình hoạt động của các Kô-min-kan, Bộ luật Giáo dục xã hội của Nhật Bản ban hành năm 1949 đã khẳng định Kominkan là một bộ phận của hệ thống giáo dục người lớn. Điều này tạo tiền đề cho các Kô-min-kan phát triển với tốc độ nhanh chóng, tính đến năm 2004, Nhật Bản có 18.000 Kô-min-kan phủ khắp 90% tổng số thị trấn, làng xã trong cả nước; các Kô-min-kan chịu sự quản lý của ủy ban, hội đồng giáo dục địa phương, hoạt động được hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước, còn lại cơ bản là nguồn do ủy ban địa phương huy động.
Kô-min-kan được coi như là một trung tâm văn hoá tại địa phương [50, tr 14,15] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trung tâm học tập cộng đồng ở Thái Lan Năm 1977, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án phát triển giáo dục không chính quy trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời. Dự án xây dựng lại hệ thống các cơ sở giáo dục không chính quy cho người lớn như sau: - Xây dựng 5 trung tâm nghiên cứu và phát triển, tại 5 vùng; - Xây dựng mạng lưới các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp tỉnh tại 76 tỉnh và Trung tâm giáo dục không chính quy cấp huyện (khoảng 700 trung tâm); - Xây dựng mạng lưới các TTHTCĐ cấp xã hoặc liên xã (khoảng 6000 trung tâm). Ở Thái Lan có hai loại TTHTCĐ: Thứ nhất, các TTHTCĐ dựa vào các cơ sở có sẵn như trường học, nhà máy, đình chùa, nhà thờ.; thứ hai là các TTHTCĐ dựa vào cộng đồng.
Trong mỗi trung tâm đều có thư viện, phòng đọc sách báo, phòng họp cộng đồng, phòng xem ti vi, radio và một số phương tiện giáo dục thiết yếu: đài, loa phát thanh, nhạc cụ, dụng cụ thể dục thể thao. Các của TTHTCĐ ở Thái Lan thực hiện 3 chức năng chủ yếu là: - Giáo dục cơ sở (xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở); - Giáo dục nghề nghiệp, huấn luyện kỹ năng ngắn ngày, giáo dục nghề cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông; - Thông tin, tư vấn. Trung tâm học tập cộng đồng ở Ấn Độ Năm 1988, Chính phủ Ấn Độ quyết định thành lập một mạng lưới rộng lớn các Jana Shikshan Nilayams (viết tắt là JSNs - Trung tâm học tập(TTHT) trong cả nước nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho sau xóa mù chữ và giáo dục thường xuyên, tại đây được coi là nơi triển khai chính thức các chương trình học tập. Về quy mô, cứ 4-5 làng (khoảng 5.000 dân) có một TTHT.
Sau năm 1990, Chính phủ Ấn Độ chủ trương thành lập phát triển các TTGDTX, xây dựng cơ sở hạ tầng cho trung tâm GDTX nhằm tạo điều kiện cho những người mới biết chữ củng cố nâng cao và vận dụng những kiến thức đã học để 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nâng cao chất lượng cuộc sống. Thành lập trung tâm GDTX đầu mối thực hiện các nhiệm vụ như: Mở các lớp học buổi tối để củng cố kỹ năng biết chữ; tổ chức đọc sách, cho mượn sách; tổ chức thảo luận những vấn đề chung của cộng đồng; tổ chức các chương trình huấn luyện ngắn ngày về kĩ thuật sản xuất và chăm sóc sức khỏe; tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, các hoạt động văn hoá và giải trí. Về đặc điểm tổ chức và quản lý, các Trung tâm GDTX của Ấn Độ được thành lập ở cấp xã, quy mô cứ 1500 – 2000 người thì thành lập một Trung tâm GDTX. Các trung tâm này chủ yếu do cộng đồng tự cam kết thành lập và quản lý.
Trung tâm học tập cộng đồng ở Myanmar Mô hình trung tâm học tập cộng đồng bắt đầu được xây dựng tại Myanmar từ năm 1994 được sự trợ giúp của UNDP, UNESCO và các tổ chức phi chính phủ khác. Tính đến năm 2004, Myanmar đã có 480 TTHTCĐ. Đây là một cơ sở giáo dục tại làng xã, được thành lập và quản lý bởi nhân dân địa phương với mục đích: cung cấp những cơ hội học tập cho mọi người; cung cấp thông tin đa dạng cho mọi người; cung cấp các chương trình giáo dục không chính quy, các chương trình đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng; phát triển nguồn nhân lực và phối kết hợp giữa dân làng với các cơ quan phát triển. Qua nghiên cứu về quá trình phát triển mô hình TTHTCĐ, chúng tôi thấy rằng TTHTCĐ đã được xây dựng và phát triển rất sớm ở một số quốc gia, đặc biệt ở Nhật Bản.
Mặc dù thể chế chính trị, nền kinh tế của các quốc gia khác nhau, tên gọi khác nhau, mức độ phát triển cũng khác nhau, nhưng tựu trung lại, các quốc gia đều quan tâm đến giáo dục cộng đồng, coi giáo dục cộng đồng là động lực cơ bản để tái tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội. [50, tr 25,26] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, chủ trương xây dựng hình thức giáo dục không chính quy, giáo dục cộng đồng đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việc chống nạn mù chữ trong cả nước; Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học ít nhất 30 người theo học.
Phong trào bình dân học vụ phát triển sôi nổi rộng khắp trong cả nước. Chỉ sau một năm thực hiện cả nước đã mở được 75.664 người tham gia dạy học và hơn 2,5 triệu học viên đã biết đọc biết viết. Đây là đặc trưng lớp học xóa mù chữ ở cộng đồng tương ứng với lớp học xóa mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học, Trung học cơ sở ở TTHTCĐ hiện nay. Nhằm phát triển mô hình TTHTCĐ ở Việt Nam, các Viện nghiên cứu khoa học và phát triển giáo dục, các nhà nghiên cứu giáo dục đã dành nhiều tâm sức nghiên cứu loại hình giáo dục không chính quy này.
Tiêu biểu là các tài liệu, tác giả và công trình nghiên cứu sau: - “Hướng dẫn biên soạn tài liệu ở TTHTCĐ” [45] và “Hướng dẫn người lớn học như thế nào?”[46](Viện chiến lược và chương trình giáo dục – Bộ GD&ĐT), nội dung hai tài liệu biên soạn đề cập đến đặc điểm học tập của người lớn, phương pháp hướng dẫn người lớn học; nêu lên một số tiêu chí, tổ chức biên soạn và sử dụng tài liệu qua đó nhằm giúp nâng cao năng lực cho các cấp quản lý giáo dục, đặc biệt là CBQL, giáo viên, hướng dẫn viên ở TTHTCĐ. - Sổ tay hướng dẫn viên: “Để hướng dẫn học tập hiệu quả” (Nguyễn Trường - Hiệp hội quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản). Tài liệu cung cấp kiến thức cho hướng dẫn viên kĩ năng chuẩn bị kế hoạch bài dạy, và một số kĩ năng cần thiết khi tổ chức các hoạt động tại TTHTCĐ[42]. - Sổ tay “Thành lập và quản lý Trung tâm học tập cộng đồng” (Vụ GDTX-Bộ GD&ĐT – Hiệp hội quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản).
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tài liệu nêu lên những vấn đề cơ bản về chức năng, nhiệm vụ, nguồn lực, mạng lưới và liên kết, công tác quản lý của đội ngũ CBQL TTHTCĐ[50]. - “Phát triển Trung tâm học tập cộng đồng”(Vụ GDTX-Bộ GD&ĐT – Hiệp hội quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản). Tài liệu đề cập đến nhu cầu phát triển TTHTCĐ trong bối cảnh thay đổi của thời đại và đất nước; những vấn đề cơ bản về đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ, quản lý, tổ chức hoạt động, phát triển bền vững mô hình tổ chức, quản lý các TTHTCĐ [51]. - “Xã hội hóa công tác giáo dục” (Phạm Minh Hạc chủ biên) nêu lên cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cách làm XHHGD thông qua Đại hội giáo dục các cấp đồng thời nhấn mạnh XHHGD là động lực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài với các tiêu chí: giáo dục hóa xã hội, dân chủ hóa giáo dục, cộng đồng hóa trách nhiệm, đa dạng hóa loại hình giáo dục, đa phương hóa nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục, thể chế hóa sự quản lý của nhà nước về giáo dục [22].
- “Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” (Phạm Minh Hạc chủ biên), tổng hợp kinh nghiệm thế giới về XHHGD. Theo đó XHHGD chính là việc giáo dục phải thích nghi với xã hội, phải phục vụ nền kinh tế xã hội, phục vụ cuộc sống xã hội [24].