Mở đầu Phần II: Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: 5 Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD ở trƣờng tiểu học. Thực trạng quản lý công tác XHHGD ở các trƣờng tiểu học trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Các biện pháp quản lý công tác XHHGD ở các trƣờng tiểu học trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Phần III: Kết luận và Khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài 1. Quan niệm về xã hội hóa giáo dục Hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia không dùng thuật ngữ XHHGD mà ngƣời ta dùng một số thuật ngữ khác có liên quan đến XHHGD với những nội hàm có sự khác nhau ở từng quốc gia.
- Giáo dục cộng đồng (community education) Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục cộng đồng là nguyên tắc xuất phát của mọi hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng lợi ích của cộng đồng và hƣớng vào việc cải thiện chất lƣợng cuộc sống. Theo nghĩa hẹp, giáo dục cộng đồng đƣợc hiểu là các hoạt động xã hội đa dạng, hƣớng tới việc huy động nguồn lực từ mọi tầng lớp ngƣời, mọi lứa tuổi tham gia để thoả mãn nhu cầu cá nhân nhƣng mang tính chất giáo dục. - Giáo dục suốt đời (longlife education) Ngày xƣa, chúng ta thƣờng quan tâm đến việc học ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, sau đại học. Ngày nay, ngƣời ta bắt đầu quan tâm đến việc học của tất cả mọi lứa tuổi, ngay cả ngƣời già.
Tuổi thọ trung bình của con ngƣời trên thế giới ngày càng nâng lên, đòi hỏi yêu cầu về giáo dục cho mọi lứa tuổi càng đƣợc đặt ra một cách cấp thiết. Mục tiêu của giáo dục tuổi già là giúp ngƣời già nhận thức đƣợc tâm sinh lý tuổi già, chấp nhận tuổi già, chấp nhận cuộc sống phụ thuộc vào ngƣời khác, sống vui, sống khỏe, sống có ích. Giáo dục suốt đời thực hiện câu khẩu hiệu mà UNESCO đƣa ra: Sống là học, học tập là công việc của cả cuộc đời” - Phi tập trung hoá (decentralization) Phi tập trung hoá bao gồm hai nội dung: + Phân quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm từ trung ƣơng xuống địa phƣơng, từ các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên xuống các cơ quan cấp dƣới. 7 + Huy động sự tham gia của cộng đồng, của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức đoàn thể, quần chúng khác đóng góp vào sự phát triển giáo dục.
- Công bằng xã hội trong giáo dục (social equity in education) Công bằng trong giáo dục nghĩa là tạo ra cơ hội về giáo dục ngang nhau giữa mọi ngƣời, bao gồm hai khía cạnh: Sự bình đẳng trong khi tham gia vào quá trình giáo dục, liên quan đến tạo ra các cơ hội ngang nhau cho mọi công dân khi họ tham gia vào quá trình học tập, nghĩa là liên quan đến việc đối xử bình đẳng của ngƣời học trong các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập. - Xã hội học tập (learning society) Vấn đề học tập không còn ranh giới giữa các quốc gia trên thế giới. Tất cả mọi ngƣời đƣợc đi học. Xã hội là một ngôi trƣờng lớn cho tất cả mọi ngƣời đƣợc học tập, nghiên cứu.
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, con ngƣời chúng ta cũng có thể học tập, nâng cao trình độ học vấn của bản thân. Vai trò của công tác xã hội hóa giáo dục. Tổ chức thế giới UNESCO đã đƣa ra chiến lƣợc phát triển giáo dục của thế giới trong thế kỷ XXI với nhiều định hƣớng mang tính thời đại. Trong đó có định hƣớng chuyển dần vai trò Nhà nƣớc hỗ trợ gần nhƣ toàn bộ cho giáo dục sang sự tham gia ngày càng nhiều hơn của ngƣời dân và cộng đồng xã hội.
Đây chính là định hƣớng mới cho một xu thế của giáo dục trong thời kỳ mới. Có thể nói là xu thế XHHGD. Trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều mô hình XHHGD cao không chỉ trên phƣơng diện phạm vi mà còn ở phƣơng diện nội dung và hình thức. Công tác XHHGD không chỉ là huy động về tài chính mà còn huy động cả nhân lực.
Những nghiên cứu trong nước 1. Những nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục - Quan niệm về xã hội hóa giáo dục Hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về XHHGD đều đƣa ra cách của mình về vấn đề này. 8 Từ nghiên cứu của tác giả Thái Xuân Đào [12], Nguyễn Công Giáp [14], Nguyễn Văn Đản [8], Giáp Văn Dƣơng [6] có thể khái quát quan niệm các các tác giả này về vấn đề XHHGD nhƣ sau: + XHHGD đòi hỏi sự tham gia của toàn thể xã hội vào công cuộc xây dựng và phát triển của ngành giáo dục. + XHHGD phải đảm bảo mối quan hệ hai chiều: con ngƣời đến với giáo dục và giáo dục đến với mọi ngƣời.
+ XHHGD không chỉ thể hiện mục tiêu mà ở toàn bộ nội dung, hình thức và phƣơng thức giáo dục. + XHHGD làm đa dạng hoá chủ thể đầu tƣ, chủ thể giám sát các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục cũng nhƣ cộng đồng xã hội. + XHHGD làm cho môi trƣờng sống của con ngƣời lành mạnh hoá. Những tác động của môi trƣờng tự nhiên và xã hội tác động đến con ngƣời đều mang tính giáo dục.
- Phân tích các quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về công tác XHHGD Công trình nghiên cứu của Trần Quốc Toản [32], Vũ Ngọc Hải [16] …Các công trình nghiên cứu này cho rằng, để thực hiện một cách có hiệu quả các quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc về XHHGD thì cần phải nắm đƣợc bản chất của XHHGD. Giáo dục phải đƣợc XHH từ mục tiêu, nội dung đến phƣơng thức, hình thức tổ chức giáo dục; từ đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục đến huy động ngƣời học ở mọi lứa tuổi đến trƣờng để học tập, góp phần xây dựng xã hội học tập. XHHGD không chỉ là sự đóng góp tất cả các nguồn lực phục vụ cho giáo dục mà còn là mọi ngƣời đƣợc hƣởng phúc lợi từ giáo dục mang lại. Phúc lợi đó chính là tất cả chúng ta đƣợc học hành, đƣợc lựa chọn cơ sở giáo dục để học tập và đƣợc thụ hƣởng một nền văn hoá tiến bộ mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về XHHGD phải đƣợc các cấp các ngành tuyên truyền sâu rộng đến từng cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, ngƣời lao động và đến toàn thể ngƣời dân. 9 - Vai trò của Nhà nƣớc trong công tác XHHGD. XHHGD không có nghĩa là Nhà nƣớc đứng bên ngoài, không còn trách nhiệm với giáo dục. Ngƣợc lại, XHHGD đòi hỏi trách nhiệm của Nhà nƣớc đối với ngành giáo dục càng cao hơn.
Khi mà XHHGD chƣa phát triển thì trách nhiệm của Nhà nƣớc đối với giáo dục là phải đảm bảo ngân sách cho toàn bộ hoạt động của sự nghiệp giáo dục. Để đẩy mạnh công tác XHHGD thì trách nhiệm của Nhà nƣớc là tạo cơ chế thuận lợi, tự chủ cho ngành giáo dục, có chế tài đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức chính trị xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục dƣới nhiều hình thức. Thực chất XHHGD không có nghĩa là thƣơng mại hóa giáo dục mà làm cho giáo dục đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của xã hội. Quan điểm trên thấy rất rõ trong các văn kiện của Đảng, các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Nam [23], Lê Khanh [20], Nguyễn Minh Phƣơng [24].
- Các giải pháp tăng cƣờng công tác xã hội hoá giáo dục. Làm thế nào để tăng cƣờng công tác XHHGD là một trong những câu hỏi đặt ra cho nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nƣớc nhƣ Trần Quyết Thắng [30], Kim Thoa [31], Dƣơng Chí Thành [29]. Mỗi tác giả đều đƣa ra những biện pháp riêng về tăng cƣờng công tác XHHGD theo một quan điểm và lập trƣờng cá nhân. Bên cạnh cái riêng, chúng ta cũng tìm thấy những cái chung, đó là hệ thống các biện pháp nhằm nâng cao công tác XHHGD của các tác giả trên nhƣ sau: + Tuyên truyền sâu rộng quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc ta cho toàn thể cán bộ, Đảng viên, công nhân viên chức và toàn thể ngƣời dân về công tác XHHGD.
+ Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục theo hƣớng tăng cƣờng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng. + Tiếp tục thực hiện XHH trách nhiệm, nghĩa vụ đối với giáo dục, đi đôi với XHH những phúc lợi mà giáo dục mang lại cho toàn xã hội. + Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các loại hình trƣờng lớp, đảm bảo sự bình đẳng, công bằng trong giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập 10 (dân lập, tƣ thục). Những nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục.
- Công trình nghiên cứu: Xã hội hóa công tác giáo dục” của tác giả Phạm Minh Hạc [15] - Luận văn thạc sỹ: Giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Nguyễn Trung Kiên, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội [22] 1. Những nghiên cứu về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học Hiện nay có rất nhiều sáng kiến kinh nghiệm, tiểu luận, luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục: - Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học tỉnh Bến Tre và một số giải pháp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình. (Luận văn thạc sỹ giáo dục học năm 2006) - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Bích Hƣờng. (Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, Trƣờng Đại học giáo dục, Hà nội năm 2017) - Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu học thuộc địa bàn huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long của tác giả Lê Hồ Thu.
- Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trong xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia ở huyện An Lão, thành phố Hải Phòng của tác giả Trƣơng Thị An (năm 2014). - Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La của tác giả Phạm Hồng Hải (năm 2010).