đặt vấn đề rộng hơn: Học suốt đời vì một xã hội toàn cầu. Tình trạng chung trong xã hội toàn cầu là khoảng cách địa lý giữa các quốc gia đang thu hẹp lại, sự giao lưu văn hóa và khoa học nhanh chóng vượt qua các biên giới quốc gia. Con người phải biết đi tìm những tri thức mới, những nguồn học mới để xây dựng một thế giới mới với lối sống toàn cầu về giáo dục người lớn [25]. Từ góc độ phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, hai tác giả N.S Khorev đã đi sâu nghiên cứu sự đóng góp của nông nghiệp vào GDP của các quốc gia và hai ông đã chỉ ra rằng, phải lôi cuốn người lớn vào GD để họ là những lao động có tay nghề cao, tạo nên năng suất lao động lớn.
Các nhà nghiên cứu xã hội học như A.Rostou, cũng bàn đến tầm quan trọng của giáo dục người lớn. Phương pháp họ đưa ra là nhằm phát triển một nền kinh tế tri thức, mở rộng cơ hội học tập đến người lớn, tạo ra nguồn nhân lực tốt phục vụ sản xuất. Vì vậy, 11 In’ Am Al Mufli đã nói đến mở rộng cơ hội học tập cho người lớn, tạo ra nguồn nhân lực học tốt cho nền sản xuất [20]. Tác giả Roberto Caneiro cũng nhấn mạnh đến việc xóa bỏ tình trạng khốn cùng, sự nghèo nàn về văn hóa, tinh thần cũng như về đời sống vật chất của người lao động thông qua GD.
Ông cho rằng, GD cho mọi người là cội nguồn của việc tạo nên vốn xã hội (Social Capital) và vốn con người (Human Capital) cho từng Quốc gia [20]. Tác giả Micheal Maley, trong bài viết “Giáo dục sự tự chủ và hàn gắn xã hội” đã đề cập đến GD và vấn đề nâng cao chất lượng trí tuệ. Theo ông, GD phải giúp thanh niên và người lớn đạt tới chất lượng và chuẩn mực đào tạo theo yêu cầu của thời đại. Người lớn phải được học tập để không bị loại trừ ra khỏi các hoạt động xã hội [20].
Năm 1996 là năm đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quá trình thúc đẩy nghiên cứu mô hình HTSĐ của cộng đồng quốc tế. Trong năm này, hàng loạt các công trình nghiên cứu về HTSĐ được công bố, như: UNESCO xuất bản tác phẩm “Kho báu tiềm ẩn” (Delors và cộng sự, 1996); OECD xuất bản báo cáo HTSĐ cho mọi người; Liên minh Châu Âu tuyên bố lấy năm này làm “Năm châu Âu về học tập suốt đời”. Nhờ những nỗ lực này, thành phố học tập đã được định nghĩa: Một cộng đồng học tập là một thành phố, thị xã hoặc vùng mà ở đó huy động được mọi nguồn lực nhằm phát triển, làm giàu thêm tiềm năng con người để nuôi dưỡng sự phát triển cá nhân, duy trì sự gắn kết xã hội và tạo ra sự thịnh vượng. Liên minh châu Âu đã đưa ra 8 năng lực cốt lõi của một công dân học tập suốt đời: 1) Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; 2) Giao tiếp bằng ngoại ngữ ; 3) Năng lực tính toán và những năng lực cốt lõi về khoa học và công nghệ; 4) Năng lực trong môi trường số (digital competence); 5) Năng lực học và tự học (learning to learn); 6) Năng lực xã hội và năng lực công dân; 7) Ý thức về các sáng kiến và nghệ thuật kinh doanh là khả năng chuyển biến các ý tưởng thành hành động; 8) Nhận thức và biểu đạt văn hóa.
Đây là cơ sở để ngày nay, cộng đồng quốc tế bắt tay xây dựng các thành phố học tập (learning city), mô hình công dân học tập để tiến tới xây dựng quốc gia học tập [125]. Để xây dựng XHHT, nhiều quốc gia đã chủ trương xây dựng các thành phố học tập (learning city). Vương quốc Anh là một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong Liên minh châu Âu đã thể hiện các nỗ lực của tổ chức này về xây dựng thành phố học tập, 12 XHHT. Bộ Giáo dục và Lao động Anh đã đề ra mục tiêu làm cho mọi người có những cơ hội tốt nhất để được GD, đào tạo và lao động, có vị trí trong xã hội và có quyền đóng góp vào sự cạnh tranh của Anh quốc trong thế kỷ XXI.
Từ năm 1996, thành phố Liverpool đã tự xác nhận mình là một “thành phố học tập”. Đến nay, ở Anh có 80 thành phố và vùng xây dựng thành phố học tập. Hội nghị châu Âu về thành phố học tập đã được tổ chức đúng dịp nước Anh giữ nhiệm kỳ Chủ tịch EU năm 1998 [125]. Tại Canada, từ năm 2003, thành phố Victoria đặt mục tiêu trở thành một “cộng đồng học tập dẫn đầu” vào năm 2020.
Sáng kiến này có phạm vi trải dài từ học tập ở bậc học mầm non cho đến việc khuyến khích những người cao tuổi tham gia các khóa học cao đẳng, đại học. Thành phố Vancouver cũng hướng tới việc trở thành một “thành phố học tập” với mục tiêu đặt ra là: đạt tỷ lệ học sinh nhập học và hoàn thành bậc học cao hơn, tỷ lệ biết đọc viết và tính toán cao hơn, có sự cộng tác hiệu quả hơn giữa các nhà GDĐT. Chiến lược của Vancouver đặc biệt chú trọng tới các cơ hội học tập cho những người và nhóm dân cư thiệt thòi, dễ gặp rủi ro và bị tách biệt về xã hội. Các thành phố St.
John’s và Emonton cũng nỗ lực để trở thành những CĐ học tập [125]. Canada đã xây dựng mô hình công dân học tập gồm những năng lực sau: 7 1. Năng lực sáng tạo, đổi mới, tinh thần lập nghiệp 2. Năng lực tư duy phản biện 6 1 1 Những 3.
Năng lực hợp tác năng lực 4. Năng lực giao tiếp, truyền thông, thông tin n ƣời học 2 5 thế kỷ XXI 5. Tính cách, phẩm chất công dân toàn cầu 6. Đạo đức công dân, lối sống văn hóa 3 7.
Năng lực sử dụng công nghệ thông tin 4 8 Sơ đồ 1.1: Mô hình năng lực của công dân Canada (Nguồn: Tầm nhìn thế kỷ 21 về giáo dục cộng đồng Canada, 2012) Tại Nhật Bản, để xây dựng XHHT, Chính phủ đã lập ra “Uỷ ban Quốc gia về giáo dục suốt đời”. Theo luật định, Nhật Bản có hai hệ giáo dục: giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. GD nhà trường là hệ GD ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường phổ thông (là loại trường phổ cập GD) và các loại hình trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học. Chính sách giáo dục xã hội Nhật Bản bao gồm 13 ba trụ cột chính: “Mở rộng mạng lưới cơ sở học tập để làm nền tảng học tập cho cộng đồng”, “hỗ trợ hoạt động trao đổi học tập trong cộng đồng” và “tổ chức các khóa học dựa trên nhu cầu của người dân”.
Bên cạnh các cơ sở học tập, như: TTHTCĐ (kominkan), thư viện, bảo tàng, thì các cơ sở học tập dành cho phụ nữ và thanh thiếu niên cũng trở thành các cơ sở GD, làm nền tảng cho việc học tập. Ngay từ năm 1979, thành phố Kakegawa - một trong bảy thành phố tham gia “các thành phố giáo dục” được công nhận là thành phố HTSĐ đầu tiên của Nhật Bản. Từ đó, dự án thành phố HTSĐ của Nhật Bản đã được thực hiện như một phần trong chính sách thúc đẩy HTSĐ của các thành phố/thị xã/CĐ. Thành phố HTSĐ có tác động rất tích cực đối với GD địa phương, năng suất lao động, sự đổi mới và nền kinh tế trong bối cảnh kinh tế tri thức [125].
Năm 1990, đạo luật về xây dựng các cơ chế và biện pháp thúc đẩy HTSĐ được ban hành. Năm 2010, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành “Chiến lược mới để tăng trưởng - lộ trình hồi sinh Nhật Bản” nhằm định hướng chính sách và các chỉ tiêu cụ thể cần đạt được đến năm 2020 về tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực ở Nhật Bản [89]. Tại Hàn Quốc, từ năm 1980, trong Hiến pháp sửa đổi đã quy định: “Nhà nước chịu trách nhiệm thúc đẩy giáo dục suốt đời”. Hệ thống GD Hàn Quốc hướng đến xây dựng một xã hội HTSĐ ở thế kỷ XXI.
Do đó, họ đã tiến hành cải cách GD mạnh mẽ và toàn diện để phù hợp với kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa. Năm 1999, thực thi Hiến pháp, Luật GD suốt đời của Hàn Quốc được ban hành. Theo đó, phải thúc đẩy GDKCQ nhằm thực hiện hai mục đích chính: liên kết GD với xã hội và biến xã hội thành nơi học tập, đồng thời tăng cường sự trợ giúp của các tổ chức GD liên quan đến GD suốt đời. Chính sách GD đại học dành cho mọi người ở Hàn Quốc hiện nay là một điển hình về một nền GD hiện đại.
Trong đó, người lớn là đối tượng được chú ý, được coi là một trong những nguyên nhân thành công trong những nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội Hàn Quốc [126]. Luật GD suốt đời (1999) còn chỉ rõ: “Chính phủ có thể chỉ định và hỗ trợ một số đô thị, quận, hạt để trở thành những thành phố học tập”. Năm 2001, 3 thành phố đầu tiên của Hàn Quốc đã được công nhận “thành phố học tập”. Đến năm 2008, đã có 76 đơn vị hành chính được công nhận là “thành phố học tập”.
Các nhà quản lý đã nhận thức “thành phố học tập” không chỉ đơn thuần cung cấp các cơ hội GD, học tập mà còn làm cho thành phố đó trở nên 14 thông minh hơn, cởi mở hơn. Để xây dựng các thành phố học tập cần có những công dân học tập. Họ xây dựng những phẩm chất, phát triển những năng lực công dân phải có để hội nhập và cạnh tranh trong thế giới hiện đại [126]. Tự nhận thức 2.
Quản lý bản thân 3. Ra quyết định có trách nhiệm 7 1 8 4. Quản lý các mối quan hệ 5. Nhận thức xã hội 3 Những Giá 6.
Tư duy phản biện và sáng tạo 11 giácốt trị trị 2 10 7. Các kỹ năng CNTT và TT cốt lõi lõi 0 8. Hiểu biết công dân, nhận thức toàn 4 5 cầu và các kỹ năng liên văn hóa 9. Con người tự tin 6 10.
Người có năng lực tự học 11. Công dân biết quan tâm 1 12. Người có đóng góp tích cực 2 Sơ đồ 1.2: Mô hình năng lực của công dân Hàn Quốc (Nguồn: Báo cáo tổng hợp xây dựng XHHT ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapre) Tại Singapore, phong trào: “Các nhà trường tư duy, một quốc gia học tập” (thinking schools, learning nation) do Thủ tướng khởi xướng năm 1997, được coi như một tầm nhìn và chiến lược mang tính bao quát toàn diện về lĩnh vực xây dựng XHHT. Quá trình xây dựng XHHT ở Singapore đi từ các chính sách cụ thể đến các dự án quốc gia.