Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Thực trạng và biện pháp dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở THPT theo hướng đối thoại. Chương 3: Thực nghiệm 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Đối thoại và dạy học tác phẩm văn chương theo hướng đối thoại 1. Những quan niệm khác nhau về đối thoại Theo Từ điển Tiếng Việt- Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội, 1998 ( Tr327) đã giải thích về đối thoại như sau: - Đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau.
Ví dụ cuộc đối thoại, người đối thoại, đoạn đối thoại trong vở kịch. - Đối thoại là để bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề về tranh chấp. Ví dụ: chủ trương không đối đầu mà đối thoại. Theo khái niệm trên, đối thoại diễn ra do nhu cầu con người cần trao đổi thông tin với nhau để bàn bạc về một vấn đề gì đó nhằm mục đích hai bên hiểu nhau hơn và từ đó dẫn đến thực hiện hành động theo mong muốn của một trong hai bên.
Muốn có đối thoại thì phải thỏa mãn hai điều kiện : Thứ nhất là nhân tố tham gia đối thoại phải có hai người trở lên, thứ hai, đối thoại phải là nhiều chiều (có lượt lời, hỏi đáp, luân phiên.tạo nên cặp thoại). Trong đó ngữ cảnh đóng vai trò quy định nội dung đối thoại. Nhìn từ thuật ngữ văn học, đối thoại ngoài nghĩa giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc hơn) thì đối thoại còn là đơn vị văn bản, đoạn tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật. Hơn nữa, đối thoại còn là một thể loại văn học ở Châu Âu, có hình thức đối thoại mà nội dung là diễn đạt một vấn đề tư tưởng, triết học, triết lý, phê bình văn học.
Theo Bakhtin : Đối thoại là một yếu tố có liên quan đến ngôn ngữ, đối thoại là lẽ sống còn của ngôn ngữ. Ông cho rằng: " Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp, đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ. giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống, của ngôn ngữ. Toàn bộ cuộc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng nó ( sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật) đều thấm nhuần những quan hệ đối thoại".
Ngôn ngữ đi vào giao tiếp thông qua lời nói (lời nói bên trong và bên ngoài). Lời nói bên trong không biểu hiện bằng âm thanh, chữ viết àm nằm ở bình diện tinh thần với những quy tắc không tường minh, là đối thoại hướng tới bản thân mình ( độc thaoij). Còn lời nói bên ngoài luôn hướng tới người khác, đối thoại từ hai chủ thể trở lên, có sự phân chia và đan xen lượt lời. Như vậy, việc giao tiếp đối thoại không chỉ đơn thuần nhằm mục đích thông tin mà còn là quá trình tác động đến người nhận về quan điểm, tình cảm và hành động.
Và chính mục đích tác động này đòi hỏi sự tư duy của các chủ thể tham gia vào cuộc đối thoại. Nói cách khác, đối thoại là sự trao đổi kết quả tư duy của người này đối với người khác, đối với hiện thực. Không có kết quả của tư duy thì không có đối thoại, không có giao tiếp. Từ đó, Bakhtin xác định đối thoại là bản chất của ý thức, tư tưởng con người “Tư tưởng không sống trong ý thức của cá nhân đã bị tách biệt của con người (…).
Tư tưởng bắt đầu sống tức là được hình thành, được phát triển, nó tìm ra và đổi mới cách biểu hiện bằng lời, sản sinh ra những tư tưởng mới bằng cách tham gia vào các quan hệ đối thoại quan trọng với các tư tưởng khác của người khác. Ý nghĩ của con người chỉ trở thành ý nghĩ đích thực, tức là trở thành tư tưởng trong điều kiện tiếp xúc sinh động với ý nghĩ người khác, được thể hiện thành tiếng nói khác, tức là với một ý thức khác được diễn đạt thành ngôn từ” Socrate (469-399), nhà triết học lừng danh của Hi Lạp cổ đại cũng thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học truyền miệng bằng cách hỏi – đáp giữa hai người, đặt ra nhiều câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề, dùng trò chuyện tay đôi, hai người tranh luận với nhau mà tìm ra chân lí. Trong khi tranh luận, Socrate không bao giờ tự đi đến kết luận; ông thường chuẩn bị trước một số câu hỏi được lựa chọn theo 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cách thức nhất định (tuỳ theo vấn đề và tùy theo đối tượng hội thoại) giúp người đối thoại phát hiện ra cái mình chưa biết, sau đó đi đến những hiểu biết nhất định, để cuối cùng có được một quan niệm về cuộc sống. Cùng với những câu hỏi, Socrat còn đưa ra các sự kiện để dẫn dắt người đối thoại tới một khái niệm nào đó.
Cuối cùng, ông giúp người đó chia các khái niệm ra thành loại, nhóm… Phương pháp này đương thời rất giá trị, được người đời gọi là “phương pháp Socrate” hay “phương pháp đỡ đẻ của Socrate” vì nó liên tưởng đến hình ảnh người mẹ sinh con nhờ sự giúp đỡ của bà mụ; và người thầy cũng với tính cách ấy giúp người học sinh tìm ra tri thức, chân lí. Phương pháp Socrate bắt đầu bằng luận đề “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả”. Câu nói ấy ngụ ý rằng trong cuộc sống cũng như trong học tập cần biết khiêm tốn, luôn tự nhủ rằng mình chưa biết để từ điểm “không” ấy đi từng bước thận trọng đến với chân lí, niềm tin. Từ việc nghiên cứu các quan điểm đối thoại từ nhiều khía cạnh khác nhau, chúng tôi khái quát những phạm vi nội dung chứa trong các khái niệm nêu trên, để đưa ra quan điểm về đối thoại trong phương pháp giảng dạy nói chung và tính đối thoại trong tác phẩm văn chương nói riêng.
Thứ nhất: Đối thoại là một hoạt động giao tiếp bằng lời. Đó là lời nói chuyện giữa hai hay nhiều người với nhiều mục đích khác nhau, trong những ngữ cảnh khác nhau. Trong bất cứ cuộc đối thoại nào cũng gồm ba vận động chủ yếu: Sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác giữa các nhân vật đối thoại. Với cách hiểu như vậy, trong dạy học, những giờ dạy chỉ có tiếng nói của thầy giáo giảng bài, truyền đạt thông tin, thuyết giảng và học sinh chỉ có nhiệm vụ lắng nghe và ghi chép gọi là giờ độc thoại của người thầy.
Ngược lại, trong giờ học có sự đan xen lời nói của thầy giáo và học trò thì đó là dạy học đối thoại. Thầy giáo sử dụng các phương pháp gợi mở, nêu vấn đề, đặt câu hỏi.tổ chức cho học sinh tích cực tham gia phát biểu ý kiến, trả lời câu hỏi, trực tiếp trình bày những quan điểm, những hiểu biết của mình về nội 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dung bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Dạy học theo kiểu đối thoại như thế, vai trò chủ thể của học sinh trong giờ học được phát huy. Thứ hai: Đối thoại là giao tiếp trong tư duy, trong tư tưởng, đối thoại trong bản thân “cái tôi”.
Nói như vậy, có thể hiểu là ở đây có thể không cần sự hiện diện của các chủ thể mà còn có các chủ thể ngầm. Trong một lời nói, ta có nhắc đến lời người khác như một trích dẫn thì dù người khác không có mặt ở đây nhưng chủ thể người khác đã cùng ta tham gia vào cuộc đối thoại, tạo ra lời hay giọng của hai chủ thể. Đối thoại trong cái “tôi” là cách nhận thức có chiều sâu, nhận thức đa chiều, nhận thức luôn đặt thêm câu hỏi “tự vấn”, câu hỏi khẳng định, câu hỏi phủ định, câu hỏi nghi ngờ, câu hỏi phát hiện thêm.Đó là cách tạo đối thoại ngầm trong tư duy của người tiếp nhận, để việc tiếp nhận, lĩnh hội không bằng phẳng, đơn giản. Như vậy, với quan điểm mở rộng, đối thoại không chỉ dừng lại ở tiêu chí về hình thức trong giao tiếp bằng lời giữa hai hay nhiều người mà ngay khi bạn đọc tiếp nhận tác phẩm đã xuất hiện sự đối thoại giữa bạn đọc với bạn đọc, giữa bạn đọc và tác giả, tác phẩm.
Thậm chí có những tác phẩm sống cách đây hàng thế kỉ, có những tác phẩm ra đời hàng trăm năm vẫn lên tiếng đối thoại cũng nhận thức tư duy bạn đọc. Các tác phẩm văn học của các quốc gia khác nhau, sống trong các thời kì lịch sử khác nhau có thể gặp nhau, đối thoại với nhau. Thứ ba: Đối thoại mang bản chất khoa học nhân văn dân chủ. Cuộc sống là một cuộc đối thoại lớn, tồn tại ở đó sự giao thoa của nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu, không có tiếng nói nào bị lấn át.
Con người luôn phát đi tiếng nói của mình, luôn có nhu cầu muốn trao đổi thông tin, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng. Đối thoại giúp cho từ cái đã biết rồi làm cho nhau biết thêm những cái chưa biết, những sự vật mới, những tình cảm mới. Chính trong đối thoại con người trưởng thành thêm, phát triển thêm. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đối thoại trong sáng tác và tiếp nhận tác phẩm văn chương Tác phẩm văn chương là một hệ thống mở, một hệ thống động. Vòng đời của tác phẩm văn chương đan kết nhiều quá trình và nhiều mối quan hệ: cuộc sống - nhà văn – tác phẩm văn chương – bạn đọc – cuộc sống, từ đó tạo ra nhiều tiếng nói khác nhau trong các mối quan hệ đó. Đến với tác phẩm văn chương cần nhận diện rõ các mối quan hệ trong vòng đời của một tác phẩm để lắng nghe được nhiều tiếng nói, để hoà nhập vào môi trường đối thoại của các “chủ thể văn học”. Trong sáng tác, để tạo ra tác phẩm, nhà văn phải đi vào khám phá, tìm hiểu cuộc sống.
Đó chính là quá trình nhà văn tham dự vào một cuộc đối thoại lớn, ở đó vang lên nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu. Đồng thời trong quá trình sáng tác, để tạo nên những cái riêng, cái khác, cái độc đáo của mình, các nhà văn phải tự đối thoại với chính bản thân để thanh lọc, lựa chọn, tìm tòi, tạo ra giá trị của tác phẩm. Khi tác phẩm ra đời, nó lại tiếp tục cuộc đối thoại trong quá trình tiếp nhận của độc giả. Nhà văn sẽ đối thoại với bạn đọc thông qua tác phẩm.