phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn đƣợc trình bày trong 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hƣớng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức trong dạy học môn Lịch sử. Chƣơng 2: Các biện pháp hƣớng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 ( Lớp 12 – chƣơng trình chuẩn) và thực nghiệm. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƢỚNG DẪN HỌC SINH LĨNH HỘI KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 1. Quan niệm về kiến thức, kiến thức lịch sử, đặc điểm kiến thức lịch sử 1.
Quan niệm về kiến thức, kiến thức Lịch sử * Về kiến thức Có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về kiến thức. Theo quan niệm của giáo dục học thì "Kiến thức là sự thông hiểu và lưu trữ trong trí nhớ những sự kiện cơ bản của khoa học và những quy tắc kết luận với những quy luật xuất xứ từ những sự kiện ấy" [20, tr. Các nhà sinh lý học lại cho rằng "Kiến thức chẳng qua là một dạng nhất định của các mối liên hệ tạm thời, được tạo trên các vỏ bán cầu đại não do ảnh hưởng của các kích thích bên ngoài và các hoạt động tư duy tích cực của chủ thể đang nhận thức.19] Còn theo từ điển Tiếng Việt "Kiến thức là những hiểu biết của con người về tự nhiên, cộng đồng xã hội và bản thân mình do tìm hiểu, học tập mà nên". [22] Có thể thấy, các định nghĩa có sự khác nhau về lời lẽ, nhƣng mỗi định nghĩa trên đều nêu về bản chất của kiến thức.
Có thể hiểu một cách khái quát, kiến thức là những điều chủ thể có đƣợc do từng nghe nói hoặc nhờ học tập. * Về kiến thức lịch sử Lịch sử là một quá trình phát sinh, phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội diễn ra theo trình tự thời gian. Kiến thức lịch sử là những hiểu biết cơ bản về quá khứ. Đây là một điều kiện để con ngƣời tồn tại và phát triển.
Bởi vì mỗi thế hệ đang sống, bao giờ cũng mang trong mình những giá trị, bài học, kinh nghiệm của thời đã qua. Vì thế, nhận thức lịch sử là một nhu cầu quan trọng của con ngƣời trong xã hội. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong dạy học lịch sử, nhiệm vụ trọng tâm của giáo viên là cung cấp hệ thống kiến thức lịch sử và hƣớng dẫn học sinh lĩnh hội đƣợc kiến thức ấy để đạt đƣợc mục tiêu giáo dục. Vậy kiến thức lịch sử ở trƣờng phổ thông là gì? Phƣơng pháp luận sử học đã từng khẳng định rằng, lịch sử có hai dạng tồn tại: hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử.
+ Hiện thực lịch sử là những sự kiện, hiện tƣợng có thật đã xảy ra trong xã hội loài ngƣời. Ví dụ Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2 – 9 – 1945 tại quảng trƣờng Ba Đình, Chiến thắng Điện Biên Phủ vào tháng 5 – 1954. Những sự kiện này vốn là hiện tƣợng khách quan tồn tại độc lập với ý thức chủ quan của ngƣời nhận thức lịch sử, dù chúng ta có biết hay không, có thừa nhận hay không, hoặc nhận thức đƣợc giải thích nhƣ thế nào thì nó vẫn tồn tại không có cách nào thay đổi đƣợc. Ví dụ sự kiện Pháp quay trở lại xâm lƣợc nƣớc ta lần thứ hai vào 23 – 9 – 1945 là hiện thực lịch sử, dù chúng ta muốn hay không thì nó cũng đã xảy ra trong lịch sử nƣớc ta.
+ Nhận thức lịch sử: là sự ghi chép, nhận thức của con ngƣời về hiện thực lịch sử đã diễn ra đó, còn đƣợc gọi là tri thức lịch sử. Trong những hiểu biết đó, có những hiểu biết đúng đắn, đƣợc kiểm chứng bằng những di chứng lịch sử và chúng trở thành tri thức khoa học lịch sử. Kiến thức lịch sử ở trƣờng phổ thông là một bộ phận của khoa học lịch sử. Nó là những hiểu biết của học sinh về lịch sử xã hội loài ngƣời và lịch sử dân tộc, đƣợc khoa học lịch sử thừa nhận và ghi chép trong các cuốn sách giáo khoa mới nhất.
Có nhiều cách phân loại kiến thức lịch sử khác nhau: + Căn cứ vào chƣơng trình, sách giáo khoa có kiến thức lịch sử theo bậc học, lớp học nhƣ kiến thức lịch sử lớp 6, lớp 7, lớp 8. + Căn cứ vào địa điểm, phạm vi ảnh hƣởng của kiến thức đó trong hệ thống kiến thức lịch sử của học sinh thì chia kiến thức lịch sử thành lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phƣơng. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Căn cứ vào nội dung lịch sử mà kiến thức ấy phản ánh thì có kiến thức lịch sử kinh tế, kiến thức lịch sử về chính trị, kiến thức lịch sử về quân sự, kiến thức lịch sử về văn hóa, kiến thức lịch sử về xã hội. + Căn cứ vào ý nghĩa, vai trò của kiến thức ấy trong hệ thống kiến thức lịch sử mà học sinh phải nhận thức thì có kiến thức cơ bản và không cơ bản.
Kiến thức cơ bản là những kiến thức cần thiết, không thể thiếu trong một bài, một chƣơng hay một khóa trình lịch sử, nó gồm sụ kiện, hiện tƣợng, nhân vật điển hình, địa điểm quan trọng. Nhờ đó học sinh có thể khôi phục lại bức tranh quá khứ với những nét chung nhất, điển hình nhất. Kiến thức không cơ bản là những kiến thức không quan trọng mà thiếu nó không ảnh hƣởng lớn đến nhận thức lịch sử của học sinh. + Căn cứ vào tính đơn giản hay phức tạp của kiến thức lịch sử, có hai loại kiến thức là kiến thức phần Sử và kiến thức phần Luận.
Kiến thức phần Sử bao gồm các yếu tố tạo nên lịch sử nhƣ thời gian, không gian, nhân vật, diễn biên, kết quả. Kiến thức phần Luận là những đánh giá, giải thích, nhận xét, bình luận về lịch sử đó. + Bên cạnh cách phân loại trên, căn cứ vào con đƣờng nhận thức kiến thức lịch sử của học sinh, kiến thức lịch sử còn đƣợc phân thành 5 loại: sự kiện lịch sử, biểu tƣợng lịch sử, khái niệm lịch sử, quy luật lịch sử. Trong phạm vi luận văn này, kiến thức lịch sử mà chúng tôi sử dụng để thực hiện đề tài là "kiến thức cơ bản".
Đặc điểm của kiến thức lịch sử Kiến thức lịch sử mang những đặc điểm rất nổi bật đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống và sự thống nhất giữa sử và luận.179] a) Tính quá khứ Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời từ lúc con ngƣời hình thành đến nay. Tất cả những sự kiện và hiện tƣợng Lịch sử đƣợc chúng 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ. Kiến thức Lịch sử là những sự kiện hiện tƣợng Lịch sử đã xảy ra trong quá khứ không thể khôi phục hay làm thí nghiệm lại đƣợc. Và nhƣ vậy, trong việc giảng dạy lịch sử có những khó khăn nhất định.
Giáo viên phải làm sao để học sinh hình dung tƣởng tƣợng, tái tạo lại sự kiện, hiện tƣợng lịch sử đúng nhƣ nó từng tồn tại, song xét từ góc độ khác, nó cũng mang lại cho việc giảng dạy Lịch sử những ƣu điểm mà các bộ môn khác không thể có đƣợc. Chẳng hạn, nó rất có ích trong việc chúng ta bồi dƣỡng và phát triển trí tƣởng tƣợng của học sinh. b) Tính không lặp lại Kiến thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian. Mỗi sự kiện, hiện tƣợng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định.
Không có một sự kiện, hiện tƣợng lịch sử nào hoàn toàn giống nhay, mà là sự kế thùa, phát triển, "sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại'. Chính điều này bắt buộc các nhà giảng dạy lịch sử khi trình bày một sự kiện, hiện tƣợng nào đó trong lịch sử phải xem xét tính toàn diện và cụ thể cả về thời gian và không gian nảy sinh hiện tƣợng đó. c) Tính cụ thể Lịch sử của mỗi nƣớc, mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng do những điều kiện riêng quy định. Mặt khác các quốc gia, các dân tộc khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy bị tác động của những quy luật chung trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao, hình thái xã hội không ngừng phát triển từ thấp đến cao, đời sống văn hóa tinh thần của con ngƣời ngày càng phong phú, đa dạng nhƣng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc không hoàn toàn giống nhau.
Ví dụ chế độ phong kiến ở Anh khác với chế độ phong kiến ở Pháp, ở Trung Quốc. Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tƣợng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bấy nhiêu thì càng hấp dẫn bấy nhiêu. d) Tính hệ thống (hay còn gọi là tính logic lịch sử) 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa học lịch sử vừa bao gồm các sự kiện hiện tƣợng về co sở kinh tế, đấu tranh xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thƣợng tầng, tình hình sản xuất cả quan hệ sản xuất. Nội dung tri thức lịch sử nhƣ vậy rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài ngƣời, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nghệ thuật, khoa học kỹ thuật.
Sách giáo khoa lịch sử ở trƣờng phổ thông tuy giản đơn nhƣng cũng phải bao quát đƣợc các mặt đó. Những nội dung kiến thức lịch sử đó lại có mối liên hệ nội tại chằng chịt, phức tạp. Điều này đòi hỏi ngƣời giáo viên phải luôn luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trƣớc sau của các vấn đề lịch sử để cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh. e) Tính thống nhất giữa Sử và Luận Sử học là một ngành của khoa học xã hội.
Nó xuất hiện từ rất sớm, từ trƣớc đến nay, nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng. Họ đã ghi chép lại nhiều sự kiện hiện tƣợng lịch sử mà học cho rằng có ý nghĩa quan trọng, nhằm để lại cho hậu thế những trƣớc tác lịch sử quý báu.