phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoa ̣t đô ̣ng Giáo dục Thể chất Chƣơng 2: Thực trạng về quản lý hoa ̣t đô ̣ng Giáo dục T hể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục Thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu Trong xã hội nguyên thuỷ cuộc sống tự nhiên đòi hỏi các thành viên những yêu cầu nhất định về; Sự chuẩn bị thể lực, sự khéo léo, sức mạnh, sức bền, khả năng thực hiện nhiệm vụ trong săn bắn, chiến tranh và phòng ngừa thiên tai. Do đó đã phát triển hình thành, tồn tại một hệ thống GDTC đa dạng. Nhiều bộ tộc thời cổ đại đã biết các bài tập phát triển tố chất thể lực và trò chơi như một phương tiện đặc biệt nhằm chuẩn bị cho con người vào lao động tự nhiên.
Ở một số bộ tộc có quy định nghiêm ngặt không cho phép thanh niên được cưới vợ nếu chưa trải qua những thách thức nhất định về sự chuẩn bị thể lực, điều đó khẳng định con người cần có khả năng độc lập và làm chủ bản thân trong cuộc sống. Tương tự như vậy cũng cần có những yêu cầu nhất định đối với phụ nữ, về việc chuẩn bị thể chất cho tương lai. Dù trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ nào, thì vai trò quyết định giá trị phát triển để có tư chất thể lực vẫn tồn tại trong đời sống xã hội và tự nhiên. Sự phát triển của chúng luôn là bộ phận quan trọng đối với giáo dục con người.
Trong xã hội nô lệ, điển hình là trong thời cổ Hy Lạp, để tiến hành chiến tranh xâm lược và đàn áp người nô lệ, giai cấp chủ nô nếu không biết đọc, viết và bơi lội được coi là người mù chữ. Đào tạo các môn khoa học tự nhiên, xã hội, phải có môn thể dục, đấu kiếm, cưỡi ngựa, bơi lội, chạy. Thông qua các hoạt động, con người đựơc giáo dục sức mạnh, sự khéo léo và những tố chất cần thiết. Điển hình nhất, phản ánh sự phát triển TDTT của thời kỳ đó là thế vận hội Olympic, đây là hoạt động lịch sử có giá trị văn hoá cao trong đời sống cổ Hy Lạp.
Những người chiến thắng trong Olympic được xã hội tôn trọng xem như vị anh hùng thế vận hội. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều nhà khoa học vĩ đại thời cổ đại nổi tiếng đã từng là những vận động viên xuất sắc: Nhà toán học Pitago là nhà vô địch Olympic về môn vật chiến đấu, nhà triết học Platon cũng nổi danh về môn vật chiến đấu này. Nhà triết học Socrate và Aristote, diễn giả Démosthene, nhà văn Lukian đã đánh giá cao ý nghĩa lớn lao của GDTC khâm phục sự biểu hiện sức mạnh, lòng dũng cảm và hào hiệp. Quan điểm của người cổ Hy Lạp về các bài tập TDTT biểu thị qua lời nói của Aristote: “Không có cái gì làm tiêu hao và phá huỷ con người hơn là sự ngưng trệ vận động”[30].
Trong chế độ nông nô, các bài tập thể dục khác nhau (vật, nhào lộn, cưỡi ngựa, đấu kiếm) đã được sử dụng rộng rãi. Ở Ai cập, Babilon, Nam Tư, Trung Quốc, Ấn Độ, ở thành cổ Rôma đã tồn tại hệ thống GDTC. Trong chế độ phong kiến, GDTC mang tính phục vụ chiến tranh. GDTC và quân sự là mục tiêu của người kỵ sĩ phải nắm vững 7 yêu cầu: cưỡi ngựa, bắn súng, đấu kiếm, bắn cung, bơi lội, săn bắn, chơi cờ và đọc thơ.
Mục đích cuối cùng là có đội quân hùng hậu. Trong xã hội tư bản, TDTT phát triển ở trình độ cao. Sự xuất hiện và phát triển sâu rộng TDTT xem như một bộ phận của nền văn hoá xã hội. Đồng thời trong giai đoạn này đã xuất hiện nền lý luận GDTC tư sản.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử hoạt động TDTT luôn gắn liền với cuộc sống lao động của con người. Nhận thức về lợi ích của TDTT đối với con người và xã hội, ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, trong đó có đoạn: “Giữ gìn dân chủ, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”[30]. Đồng thời Người đã ký sắc lệnh thành lập Nha thể dục nhằm xây dựng và phát triển phong trào "Khoẻ vì nước". Tư tưởng đó của Người đã trở thành động lực thúc đẩy phong trào quần chúng tập luyện thể dục rèn luyện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thân thể và đã góp phần không nhỏ trong công cuộc kháng chiến thắng lợi của dân tộc.
Ngày nay GDTC đã trở thành một môn học bắt buộc trong hệ thống trường học các cấp nói chung và trong các trường Đại học và Cao đẳng nói riêng. Nó có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới vừa có tri thức vừa có sức khỏe, đáp ứng được những yêu cầu xã hội ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và bảo vệ Tổ quốc 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là một chức năng lao động - xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động.
Quản lý là hoạt động chỉ đạo để nhằm thực hiện mục đích của chủ thể quản lý. Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên, làm xuất hiện nhu cầu có hoạt động để điều hành tạo ra sự phối hợp của các hoạt động riêng lẻ đó. Trong mỗi một nhóm, một tổ chức của nền sản xuất xã hội mà đặc biệt là trong nền sản xuất xã hội tiến bộ thì bao giờ cũng có hai đối tượng: Nhà quản lý và đối tượng được quản lý. Sự cần thiết của quản lý trong một tập thể lao động được K.Marx viết : "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [35, tr.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một loại hình hoạt động lao động để điều khiển hoạt động lao động khác, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Xã hội 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loài người càng phát triển bao nhiêu thì sự chuyên môn hóa trong lao động càng cao bấy nhiêu và càng đòi hỏi sự phát triển của hoạt động quản lý. Ở xã hội hiện nay, quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung.
Quản lý là một khái niệm rộng, trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì quan niệm về quản lý cũng khác nhau dựa vào mục đích đạt được trên các lĩnh vực đó. Cho nên khi đưa ra các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình. Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các quan niệm quản lý. Sau đây là một số khái niệm của các tác giả trong nước và nước ngoài về quản lý.
* Khái niệm quản lý của các tác giả nước ngoài + Theo K.Omarov (Liên Xô) - 1983: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [28].Taylor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất.N: Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất. * Khái niệm quản lý của các tác giả trong nước 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [33]. + Theo Hà Sĩ Hồ : Quản lý là một quá trình tác động có định hướng có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.
+ Theo Nguyễn Minh Đạo: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý về các mặt văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. + Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; Quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.