Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển kể từ ngày 21 tháng 09 năm 1959 theo Quyết định số 153-VH/QĐ và được nâng cấp theo Quyết định số 26/2001/QĐ-BVHTT, Trường Cao đẳng Múa Việt Nam giữ vị thế là cái nôi đào tạo nghệ thuật múa chuyên nghiệp hàng đầu cả nước. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết số 14/2005/NQ/CP cùng Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 (Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg), giáo dục nghệ thuật đòi hỏi sự chuyển biến căn bản về chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo diễn viên múa thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, chưa xuất hiện nhiều tài năng đỉnh cao đạt tầm cỡ quốc tế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ những lúng túng trong công tác quản lý đào tạo, sự mất cân đối giữa khối lượng thực hành kỹ thuật chuyên môn với các môn văn hóa, cùng sự thiếu đồng bộ trong phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá. Đề tài "Biện pháp quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam" do tác giả Trần Thị Bích Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Vũ Ngọc Hải tập trung làm rõ thực trạng quản lý đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2005 - 2009.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện 1.962 lượt học sinh tại nhà trường, từ đó xác lập 7 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp nhà trường nâng cao tỷ lệ sinh viên đạt chuẩn nghề nghiệp xuất sắc từ mức 20% lên các nấc thang cao hơn, đồng thời tạo tiền đề nâng cấp cơ sở đào tạo lên Học viện Múa Quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết quản lý khoa học kinh điển của F.W. Taylor (1911) kết hợp với hệ thống 4 chức năng quản lý cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Cơ sở lý luận của đề tài kế thừa các tư tưởng giáo dục tiến bộ của J.A. Comenius, John Dewey, tác phẩm "Quản lý trường học" (Skolovedenie, 1956) của A. Popop, cùng các công trình nghiên cứu quản lý giáo dục hiện đại tại Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Vũ Ngọc Hải và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Lộc.

Khung lý thuyết của luận văn vận hành dựa trên 5 khái niệm then chốt: Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường, Quản lý đào tạo, Đổi mới quản lý đào tạo và Đặc thù đào tạo nghệ thuật múa. Đào tạo nghệ thuật được định vị theo công thức: Tài năng nghệ thuật = Năng khiếu nghệ thuật + Say mê nghệ thuật + Sự khổ công rèn luyện theo phương pháp khoa học. Quá trình này đòi hỏi mô hình lớp học đặc thù chỉ từ 10 đến 15 học sinh mỗi lớp nhằm đảm bảo tính tương tác thị phạm trực tiếp giữa giảng viên và người học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học:

  • Cỡ mẫu và cách thức chọn mẫu: Tác giả tiến hành khảo sát toàn diện hồ sơ học tập của 1.962 lượt học sinh thuộc 75 lớp hệ dài hạn và 67 lớp hệ ngắn hạn trong 5 năm học (2004 - 2009). Đồng thời, phiếu điều tra và phỏng vấn sâu được thu thập từ 100% cán bộ quản lý, giảng viên thuộc các khoa chuyên môn như Khoa Múa Dân tộc, Khoa Múa Nước ngoài, Khoa Biên đạo - Huấn luyện, Khoa Âm nhạc và Khoa Văn hóa.
  • Phương pháp phân tích: Kết hợp phương pháp nghiên cứu văn bản pháp quy (Luật Giáo dục 2009, các nghị quyết của Chính phủ), phương pháp quan sát thực tiễn tại sàn tập và phương pháp thống kê toán học.
  • Lý do lựa chọn: Việc sử dụng thống kê mô tả và so sánh phần trăm giúp lượng hóa chính xác sự chênh lệch kết quả giữa các khối kiến thức, loại bỏ định kiến cảm tính trong đánh giá nghệ thuật. Toàn bộ dữ liệu thực chứng được xử lý trong timeline nghiên cứu kéo dài từ năm 2005 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế giai đoạn 2004 - 2009 tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam đã chỉ ra 3 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, sự mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu giới tính người học. Thống kê 75 lớp hệ dài hạn ghi nhận 746 học sinh nữ (chiếm 69%) trong khi chỉ có 338 học sinh nam (chiếm 31%). Ở hệ ngắn hạn, tỷ lệ nữ cũng chiếm 60% (528 học sinh) so với nam là 40% (357 học sinh). Sự thiếu hụt học sinh nam gây trở ngại trực tiếp cho việc dàn dựng và giảng dạy các học phần múa đôi (DUO) và múa tính cách vốn bắt buộc phải có sự tương tác phối hợp nam nữ.

Thứ hai, sự phân hóa gay gắt giữa kết quả học tập chuyên môn và kiến thức văn hóa. Trong tổng số 1.962 lượt đánh giá, ở các môn chuyên ngành, tỷ lệ xếp loại Xuất sắc và Giỏi đạt 20% (397 học sinh), loại Khá đạt 50% (988 học sinh), loại Trung bình chiếm 27% và loại Yếu kém chỉ có 3% (54 học sinh). Ngược lại, ở khối môn Văn hóa và Âm nhạc, tỷ lệ Xuất sắc và Giỏi chỉ đạt vỏn vẹn 2,8% (55 học sinh), loại Khá đạt 21%, trong khi loại Trung bình lên tới 61,4% (1.204 học sinh) và loại Yếu kém chiếm tới 14,8% (290 học sinh).

Thứ ba, hạn chế trong phương pháp giảng dạy và cấu trúc thời lượng. Chương trình đào tạo đặt trọng tâm lớn vào 2 môn bắt buộc với thời lượng đồ sộ: Múa Cổ điển châu Âu (2.040 tiết) và Múa Dân gian (992 tiết). Tuy nhiên, có tới 23% ý kiến giảng viên phản ánh việc dạy học hiện nay mới dừng lại ở mức truyền nghề, truyền khẩu, khiến học sinh dễ trở thành những "thợ múa" bắt chước máy móc, thụ động và thiếu tư duy sáng tạo nghệ thuật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng phân hóa học lực bắt nguồn từ áp lực thể lực và cách bố trí thời khóa biểu chưa hợp lý. Việc tập luyện chuyên môn với cường độ cao vào buổi sáng khiến học sinh kiệt sức khi bước vào các giờ học văn hóa buổi chiều, dẫn đến tâm lý xem nhẹ môn văn hóa như môn phụ. Điều này trùng khớp với nhận định trong nghiên cứu về tiêu chí tuyển sinh của Nhà giáo Nhân dân Trần Quốc Cường và nghiên cứu quản lý đào tạo của Thạc sĩ Vũ Dương Dũng.

Các dữ liệu thực trạng này được trình bày trực quan thông qua bảng thống kê quy mô và biểu đồ cấu trúc kết quả học tập trong luận văn. Việc đối chiếu trực quan giữa biểu đồ chuyên môn (70% đạt Khá/Giỏi) và biểu đồ văn hóa (76,2% chỉ đạt Trung bình/Yếu kém) là minh chứng rõ nét đòi hỏi lãnh đạo nhà trường phải cải tổ toàn diện quy trình quản lý dạy học, chuẩn hóa đầu ra và cân bằng khối lượng kiến thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực chứng, luận văn đề xuất 7 biện pháp quản lý đồng bộ với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện giai đoạn 2011 - 2015:

  • Cải tiến quy trình tuyển sinh: Ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng bộ tiêu chí nhận dạng năng khiếu khoa học (hình thể, tiết tấu, độ mở, phản xạ múa) do NGND Trần Quốc Cường xây dựng. Mở rộng địa bàn tuyển sinh tại các vùng miền nhằm nâng tỷ lệ tuyển sinh nam đạt tối thiểu 40% ở hệ dài hạn trước năm 2013 do Phòng Đào tạo chủ trì.
  • Tái cấu trúc chương trình đào tạo: Rà soát, giảm tải nội dung trùng lặp trong 2.040 tiết Cổ điển châu Âu và 992 tiết Dân gian dân tộc; bổ sung 15% thời lượng cho các môn học tự chọn và kiến thức biên đạo trước năm 2012 do Hội đồng Khoa học và Ban Giám hiệu thực hiện.
  • Đổi mới phương pháp giảng dạy: Bắt buộc 100% giảng viên trẻ hoàn thành chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, chuyển từ phương pháp truyền khẩu sang phương pháp gợi mở tư duy, kết hợp thị phạm chuẩn với tư liệu video phân tích, giảm tỷ lệ dạy học máy móc từ 23% xuống dưới 5% vào năm 2014.
  • Nâng cấp cơ sở vật chất và đổi mới kiểm tra đánh giá: Hiện đại hóa 100% phòng tập với sàn gỗ chuyên dụng, hệ thống gióng, gương và camera giám sát; thiết lập ma trận tiêu chí đánh giá kỹ năng thực hành công khai, khách quan qua từng học kỳ dưới sự giám sát của Phòng Thanh tra Đào tạo.
  • Hoàn thiện chính sách đãi ngộ: Ban Giám hiệu phối hợp cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng chế độ phụ cấp độc hại, bồi dưỡng dinh dưỡng và bảo hiểm rủi ro chấn thương đặc thù cho giảng viên và học sinh múa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Ban Giám hiệu và cán bộ quản lý trường nghệ thuật: Cung cấp khung giải pháp thực tế để tái cơ cấu thời khóa biểu, cân bằng giữa 2.040 tiết chuyên môn và kiến thức văn hóa, tối ưu hóa công tác điều hành nội bộ.
  • Giảng viên và huấn luyện viên nghệ thuật múa: Sử dụng làm tài liệu tham khảo để chuyển đổi phương pháp sư phạm từ truyền khẩu sang phát triển năng lực sáng tạo cho các lớp học quy mô 10 đến 15 người.
  • Chuyên viên và nhà nghiên cứu quản lý giáo dục: Khai thác bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm 5 năm trên 1.962 học sinh để phát triển các đề tài nghiên cứu về kiểm định chất lượng đào tạo năng khiếu đặc thù.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VH-TT&DL, Bộ GD&ĐT): Làm cơ sở tham mưu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn hóa chương trình khung và chế độ đãi ngộ đối với lao động nghệ thuật biểu diễn.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao công tác quản lý đào tạo múa đòi hỏi các tiêu chí đặc thù?
    Đào tạo múa là quá trình tuyển chọn năng khiếu từ độ tuổi 12 đến 14, đòi hỏi điều kiện hình thể khắt khe và cường độ vận động thể lực lớn qua hàng nghìn giờ tập luyện. Do đó, việc quản lý đòi hỏi quy mô lớp nhỏ 10 đến 15 học sinh và quy trình bảo hộ an toàn nghiêm ngặt mà giáo dục đại trà không áp dụng.

  • Nguyên nhân nào dẫn đến sự chênh lệch giới tính 69% nữ và 31% nam tại trường?
    Sự chênh lệch xuất phát từ nhận thức xã hội về nghề múa và nguồn tuyển sinh đầu vào nam giới hạn chế. Thực tế này gây khó khăn trực tiếp cho việc thực hiện chương trình giảng dạy các môn múa đôi và múa tính cách vốn bắt buộc phải có sự cân bằng giữa hai giới.

  • Biện pháp nào giúp cải thiện tỷ lệ 61,4% học sinh xếp loại văn hóa trung bình?
    Nhà trường cần điều chỉnh lịch học khoa học, đưa các môn văn hóa vào buổi sáng khi học sinh có thể trạng tốt nhất, đồng thời đưa chuẩn đánh giá văn hóa vào điều kiện tiên quyết để xét tốt nghiệp và biểu diễn thực hành.

  • Việc 23% giảng viên dạy theo phương pháp truyền khẩu ảnh hưởng như thế nào đến học sinh?
    Phương pháp truyền khẩu khiến học sinh trở thành những người sao chép động tác thuần thục nhưng máy móc, thiếu cảm xúc thẩm mỹ và tư duy độc lập. Cần thay thế bằng phương pháp giảng dạy trực quan kết hợp phân tích băng hình để phát huy tính sáng tạo cá nhân.

  • Mô hình quản lý trong luận văn có thể áp dụng cho các cơ sở đào tạo nghệ thuật khác không?
    Hệ thống 7 giải pháp quản lý và mô hình xử lý số liệu trên 1.962 mẫu khảo sát hoàn toàn có thể chuyển giao, áp dụng hiệu quả cho các trường trung cấp, cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật, Xiếc và Sân khấu - Điện ảnh trên phạm vi cả nước.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý đào tạo nghệ thuật múa từ các học thuyết giáo dục kinh điển đến thực tiễn pháp lý Việt Nam.
  • Khảo sát thực chứng sâu rộng trên 1.962 lượt học sinh giai đoạn 2004 - 2009, phản ánh trung thực thực trạng chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam.
  • Chỉ rõ 3 điểm nghẽn then chốt: mất cân đối giới tính (69% nữ), kết quả môn văn hóa thấp (61,4% trung bình) và 23% giảng viên duy trì phương pháp dạy truyền khẩu.
  • Xác lập 7 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ từ đổi mới tuyển sinh, tái cấu trúc chương trình 2.040 tiết thực hành đến nâng cấp cơ sở vật chất và tiêu chí kiểm tra đánh giá.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ định hướng phát triển trường thành Học viện Múa Quốc gia trong giai đoạn 2011 - 2015.

Quý bạn đọc, nhà quản lý giáo dục và các nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình quản lý đào tạo nghệ thuật đặc thù có thể liên hệ tham khảo toàn văn công trình tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc Trường Cao đẳng Múa Việt Nam để ứng dụng vào thực tiễn quản lý cơ sở đào tạo.