Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế; Chương 2: Thực tiễn vai trò giám sát của Quốc hội trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ƣớc quốc tế tại Việt Nam; Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ 1. Vị trí và các quyền giám sát của Quốc hội Giám sát trong từ điển Tiếng Việt đƣợc hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”. Cũng trong Từ điển tiếng Việt, “giám sát” còn đƣợc hiểu “là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại việc nhất định” [41].
Ngoài ra, theo từ điển Tiếng Anh, “giám sát” đƣợc hiểu là “sự bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng theo quy định” [33]. Nhƣ vậy, khái niệm “giám sát” có nội hàm gồm hai yếu tố sau: - Hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể giám sát; - Phƣơng thức bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động đƣợc thực hiện đúng theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu về hoạt động giám sát của Quốc hội thì các nhà khoa học pháp lý cho rằng hoạt động giám sát không chỉ bao gồm một nghĩa là sự xác định trách nhiệm chính trị của đối tƣợng chịu sự giám sát hoặc còn bao gồm cả quyền xử lý các hành vi vi phạm phát hiện trong quá trình giám sát. Từ nội dung khái niệm “giám sát” nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét nhƣ sau: Thứ nhất, giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra đối tƣợng chịu sự giám sát, qua đó đƣa ra nhận định về một việc làm nào đó đã đƣợc thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành; Thứ hai, để tiến hành hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra thì giám sát luôn phải gắn với một hoặc một số đối tƣợng cụ thể; Thứ ba, để có thể tiến hành đƣợc hoạt động giám sát thì chủ thể hoạt động giám sát phải có những quyền hạn, nghĩa vụ nhất định đối với đối tƣợng chịu sự giám sát; Thứ tư, để có thể đƣa ra đƣợc nhận định về hoạt động của đối tƣợng chịu sự 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giám sát thì việc giám sát phải đƣợc tiến hành dựa trên những quy định do chủ thể có quyền giám sát đặt ra; Thứ năm, giám sát luôn là hoạt động có mục đích.
Mục đích của hoạt động giám sát là đƣa ra những nhận định của chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động của đối tƣợng chịu sự giám sát, qua đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm trái quy định của đối tƣợng chịu sự giám sát, bảo đảm cho những quy định của chủ thể có quyền giám sát đƣợc chấp hành. Phân biệt hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra Hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra là những hoạt động thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Đây là những hoạt động mang tính tất yếu khách quan của tất cả các Nhà nƣớc ở mọi thời đại lịch sử. Trong bất kỳ một chế độ nhà nƣớc nào, giai cấp thống trị luôn chỉ là một bộ phận của khối cộng đồng dân cƣ (hoặc là đa số hoặc không phải là đa số).
Giai cấp thống trị đặt ra pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với ý chí của giai cấp mình. Song có một thực tế là không phải bao giờ pháp luật cũng đƣợc chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Vì vậy, để bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, giai cấp thống trị phải thƣờng xuyên tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm tra. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất.
Ở nƣớc ta, quyền lực nhà nƣớc là tập trung, nhƣng đồng thời có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực này. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nƣớc đƣợc tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ [26, Điều 8]. Nhà nƣớc không chỉ ban hành Hiến pháp, pháp luật để quản lý xã hội mà còn thƣờng xuyên tiến hành hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Giám sát, kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý không chỉ của Nhà nƣớc ta mà của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Giám sát, kiểm tra không phải là chức năng của riêng cơ quan nhà nƣớc nào mà bất kỳ cơ quan nào trong quá trình hoạt động cũng phải tiến hành giám sát, kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực mà mình quản lý. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Hiến pháp năm 2013, để bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nƣớc, có thể nêu ra một số hình thức giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nƣớc nhƣ: giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ và cơ quan thanh tra Chính phủ; kiểm tra, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; kiểm tra của Toà án nhân dân tối cao (thông qua hoạt động giám đốc thẩm). Ngoài ra, cơ quan nhà nƣớc, cán bộ, công chức, viên chức nhà nƣớc còn chịu sự kiểm tra, giám sát của công dân, các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng đối với hoạt động của mình (thông qua hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Có thể sơ bộ nêu một số điểm khác nhau giữa thẩm quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội với chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nƣớc khác nhƣ sau: - Thanh tra, kiểm tra của cơ quan thanh tra là một chức năng quan trọng của cơ quan quản lý nhà nƣớc, nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nƣớc; bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [25, Điều 2].
Nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra nhà nƣớc đƣợc quy định tại các Điều 15, 18, 21, 24 và 27 của Luật thanh tra năm 2010. Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Điều 96 của Hiến pháp năm 2013, quyền thanh tra thuộc về Chính phủ. Đây là hoạt động tự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với việc thi hành Hiến pháp, pháp luật trong quá trình điều hành của Chính phủ. Về mặt đối tượng: Theo quy định của Luật thanh tra năm 2010, đối tƣợng của công tác thanh tra là việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan (đối với thanh tra nhà nƣớc) và việc thực hiện chính sách, pháp luật, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phƣờng, thị trấn, cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nƣớc (đối với thanh tra nhân dân).
Về phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý: Phƣơng thức thực hiện đƣợc tiến hành theo các quy định của Luật thanh tra. Kết quả của công tác thanh tra là chỉ xử lý các vi phạm pháp luật chƣa đến mức xử lý hình sự trong hoạt động của cơ quan nhà nƣớc. - Quyền giám đốc xét xử của Toà án nhân dân tối cao Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Điều 104 của Hiến pháp năm 2013: Với vị trí là cơ quan xét xử cao nhất của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc việc xét xử của các Toà án khác. Nhƣ vậy, Toà án nhân dân tối cao là chủ thể của hoạt động xem xét, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động xét xử của Toà án.
Về đối tượng chịu sự giám đốc: hoạt động xét xử của các Toà án khác, trừ trƣờng hợp do luật định Về phương thức thực hiện: Toà án nhân dân tối cao thực hiện quyền giám đốc theo các quy định của pháp luật về tố tụng. Về hậu qủa pháp lý: Khi phát hiện có sai phạm pháp luật trong hoạt động xét xử, Toà án nhân dân tối cao có quyền sửa đổi hoặc huỷ bỏ bản án của Toà án nhân dân cấp dƣới. - Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật đƣợc thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất. Về đối tượng chịu sự giám sát: đối tƣợng chịu sự giám sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là hoạt động của các cơ quan tƣ pháp bao gồm các cơ quan: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ quan thực hiện các hoạt động bổ trợ tƣ pháp.
Về phương thức thực hiện: Viện kiểm sát nhân tối cao khi tiến hành hoạt động kiểm sát hoạt động của các cơ quan tƣ pháp phải tuân thủ các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định của pháp luật tố tụng có liên quan. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.