Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm 1. Khái niệm chung về thẩm quyền Thẩm quyền là một khái niệm khá rộng và có những quan niệm khác nhau, xuất phát từ thuật ngữ Jurisdiction - trong tiếng Anh hay jurisdictio - trong tiếng La Tinh, thường được hiểu trong tiếng Việt là thẩm quyền, thẩm quyền xét xử, hay quyền tài phán, là một trong những thuật ngữ pháp lý khó hiểu do chứa đựng nhiều nghĩa khác nhau [69, tr. Cho đến nay, việc nghiên cứu lý luận về thẩm quyền vẫn còn nhiều khoảng trống [71].
Theo từ điển Black’s Law, thuật ngữ “thẩm quyền” được hiểu theo hai nghĩa: (i) Quyền lực của chính phủ được thực hiện với tất cả mọi người cũng như với các đối tượng khác trong lãnh thổ của họ; (ii) Quyền của tòa án để quyết định một vụ việc hay quyền đưa ra các phán quyết [70, tr. Theo Từ điển Oxford, thuật ngữ “thẩm quyền” được hiểu là quyền lực chính thức của một chủ thể để đưa ra một quyết định pháp lý hoặc một bản án [72]. Theo từ điển Tiếng Việt, thẩm quyền được hiểu là quyền xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề theo pháp luật [67, tr. Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa,“thẩm quyền” là tổng hợp các quyền hành động, quyền quyết định được trao hay thừa nhận cho một chủ thể, cho phép chủ thể đó có thể thực hiện được những chức năng cụ thể mà pháp luật quy định [64].
Thuật ngữ về "Thẩm quyền" của Việt Nam xét về nghĩa nói chung giống với nghĩa trong tiếng nước ngoài, nhưng cách sử dụng thuật ngữ có nhiều điểm khác biệt nhất định. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về thẩm quyền, tuy nhiên, tựu trung lại đều được hiểu: “Thẩm quyền là khả năng của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ thể trong việc xem xét và giải quyết hay định đoạt một công việc nào đó trên cơ sở chuẩn mực pháp luật đã định trước”. Qua sự phân tích trên có thể rút ra kết luận: “Thẩm quyền là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định cho một chủ thể nhất định được thực hiện công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định” 1. Khái niệm, đặc điểm thẩm quyền xét xử sơ thẩm Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thẩm quyền xét xử, theo từ điển Luật học thì: Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án.
Các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử. Mọi bản án do Tòa án tuyên đều phải thông qua xét xử. Không ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố công khai bằng bản án [64]. Khái niệm về: “Thẩm quyền xét xử” của Toà án không phải là một điều mới mẻ trong giới luật học trong nước cũng như thế giới.
Theo Leneunier thì: “Thẩm quyền xét xử được hiểu là khả năng của một Toà án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép”. Ở nước ta thẩm quyền xét xử đã được nghiên cứu dưới rất nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ tố tụng dân sự thì: “Thẩm quyền dân sự của toà án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự của toà án”. Dưới góc độ tố tụng hành chính thì: "Thẩm quyền xét xử của toà án hành chính là việc giải quyết các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính.
Trong TTHS thẩm quyền xét xử được xác định dựa trên một số các dấu hiệu của vụ án, chúng ta có thể chia các dấu hiệu đó làm ba nhóm sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, dựa vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm; nếu tính chất càng nghiêm trọng, vụ án càng phức tạp thì đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có nhiều kinh nghiệm, cơ sở vật chất phải đầy đủ, các yếu tố bổ trợ phải đảm bảo cho quá trình nhận thức các yếu tố một cách khách quan công bằng, đúng pháp luật. Do đó các dấu hiệu này được sử dụng nhằm phân biệt thẩm quyền của TAND cấp huyện với TAND cấp tỉnh, giữa Tòa án quân sự (TAQS) khu vực với TAQS Quân khu. Thứ hai, là dựa trên các dấu hiệu về không gian hoặc địa điểm thực hiện tội phạm, thực hiện hành vi tố tụng. Các dấu hiệu này được sử dụng nhằm phân định thẩm quyền xét xử của các Toà án cùng cấp.
Nếu có bị cáo phạm tội ở nước ngoài được xét xử ở Việt Nam thì các dấu hiệu này cũng được sử dụng để phân biệt thẩm quyền xét xử của TA các cấp. Thứ ba, là dựa trên những dấu hiệu liên quan đến người thực hiện tội phạm. Các dấu hiệu này được sử dụng nhằm phân định thẩm quyền xét xử giữa TAQS và TAND, giữa TAQS các cấp với nhau và xác định thẩm quyền của TA đặc biệt. Như vậy, muốn xác định được một cách chính xác thẩm quyền XXST của một TAND những người tiến hành tố tụng phải dựa trên cả ba nhóm dấu hiệu trên, bởi vì chúng có tác dụng bổ trợ, tương hỗ với nhau hay nói cách khác giữa chúng có mối liên hệ biện chứng hữu cơ với nhau cho nên nếu thiếu một dấu hiệu nào cũng có thể dẫn tới tình trạng xác định thẩm quyền xét xử một cách không chính xác và không có căn cứ pháp luật.
Trong khi đó đây lại là một trong những giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng nếu làm không tốt sẽ dẫn tới tình trạng “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” hình sự. Tuy nhiên, muốn xác định một cách chính xác thẩm quyền xét xử thuộc về cấp nào và có được áp dụng thủ tục xét lại bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật hay không thì chúng ta còn phải căn cứ vào bản chất của mỗi cấp xét xử, của thủ tục xét lại đó. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Quyền xét xử thuộc về TA được hiểu là thẩm quyền xét xử.
Theo Điều 3 Luật tổ chức TAND năm 2014 hệ thống tổ chức TA gồm có: Toà án nhân dân tối cao; Toà án nhân dân cấp cao; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự [44, tr. 9-10] Trong đó, theo Điều 20 Luật tổ chức TAND năm 2014 thì TAND tối cao giám đốc thẩm, tái phẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Tòa án nhân dân cấp cao cao có nhiệm vụ: Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị không nghị theo quy định của luật tố tụng [44, tr.
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ: Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật; Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kiểm tra bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện các vi phạm pháp luật hoặc các tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị; Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật [44, tr. Nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương theo Điều 44 Luật TCTAND năm 2014 thì "sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự được quy định tại Điều 49 Luật TCTAND xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của pháp luật. Việc kết tội một công dân có ảnh hưởng rất lớn đến đến danh dự, nhân quyền, tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Do vậy, TA được quy định là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự và Tòa án cũng là cơ quan duy nhất có quyền thay mặt Nhà nước tuyên bố một người có tội hay không có tội và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. BLTTHS năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội cũng như phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật” [41, Điều 9]. Việc xét xử của TA hoàn toàn khác biệt với biện pháp xử lý của cơ quan hành chính, bởi lẽ: hoạt động xét xử được áp dụng những chế tài, kể cả hình phạt và việc xét xử được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ được quy định trong pháp luật tố tụng. Do vậy, hiệu lực các phán quyết của TA cũng cao hơn các biện pháp xử lý hành chính khác.
Khi xác định thẩm quyền xét xử của TA, cần phải xác định đồng thời 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ba nhóm dấu hiệu là: Những dấu hiệu thể hiện tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc vụ án; những dấu hiệu về không gian, thời gian thực hiện tội phạm; những dấu hiệu liên quan đến đối tượng phạm tội.