Luận văn thạc sĩ: So sánh pháp luật về chống bán phá giá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

Luận văn thạc sĩ VNU LS so sánh pháp luật chống bán phá giá hàng hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, phân tích các quy định và thực tiễn.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ HOA KỲ VỀ KHÁI NIỆM BÁN PHÁ GIÁ VÀ CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA

1.1. Khái niệm bán phá giá

1.2. Bán phá giá dưới góc độ kinh tế

1.3. Bán phá giá dưới góc độ pháp lý

1.4. Khái niệm bán phá giá trong thương mại quốc tế

1.5. Các biện pháp chống bán phá giá

1.6. Các biện pháp cam kết

1.7. Áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời

1.8. Áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ HOA KỲ VỀ ĐIỀU TRA XỬ LÝ HÀNH VI BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA

2.1. Mô hình tổ chức điều tra và trình tự, thủ tục điều tra xử lý hành vi bán phá giá hàng hóa

2.2. Mô hình tổ chức điều tra hành vi bán phá giá hàng hóa. Trình tự, thủ tục điều tra và xử lý hành vi chống bán phá giá hàng hóa

2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam và Hoa Kỳ

2.4. Vụ kiện chống bán phá giá cá da trơn từ Việt Nam

2.5. Vụ kiện tôm của Việt Nam tại Hoa Kỳ

2.6. Vụ kiện tháp điện gió do Hoa Kỳ khởi xướng

2.7. Vụ kiện thép không gỉ cán nguội do Việt Nam khởi xướng

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ VIỆC SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ HOA KỲ VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

3.1. Đánh giá chung

3.2. Hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

3.3. Hoàn thiện khái niệm bán phá giá trong pháp luật hiện hành

3.4. Sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá

3.5. Hoàn thiện bộ máy thực thi chống bán phá giá cho phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam

3.6. Những bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam để phòng tránh và xử lý các vụ việc chống bán phá giá

3.7. Chủ động phòng chống các vụ kiện bán phá giá của nước ngoài

3.8. Nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các cơ quan hữu quan

3.9. Rõ ràng, minh bạch trong các chi phí, nguyên liệu và lao động để sản xuất hàng xuất khẩu

3.10. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật chống bán phá giá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

Pháp luật chống bán phá giá là một trong những công cụ quan trọng nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ nước ngoài. Việt Nam và Hoa Kỳ đều có những quy định pháp lý riêng để xử lý vấn đề này. Tuy nhiên, sự khác biệt trong cách tiếp cận và thực thi pháp luật giữa hai quốc gia này tạo ra những thách thức và cơ hội cho doanh nghiệp. Việc so sánh pháp luật chống bán phá giá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các quy định mà còn cung cấp những bài học kinh nghiệm quý giá cho doanh nghiệp Việt Nam.

1.1. Khái niệm bán phá giá trong pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ

Bán phá giá được định nghĩa là hành vi bán hàng hóa với giá thấp hơn giá trị thực tế của nó. Tại Việt Nam, khái niệm này được quy định trong Luật Quản lý ngoại thương, trong khi Hoa Kỳ áp dụng các quy định trong Đạo luật chống bán phá giá. Sự khác biệt trong định nghĩa và cách thức áp dụng có thể dẫn đến những hiểu lầm và tranh chấp trong thương mại quốc tế.

1.2. Các biện pháp chống bán phá giá tại Việt Nam và Hoa Kỳ

Cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều áp dụng các biện pháp như thuế chống bán phá giá để bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, quy trình điều tra và áp dụng thuế có sự khác biệt rõ rệt. Việt Nam thường áp dụng các biện pháp tạm thời trong khi Hoa Kỳ có quy trình phức tạp hơn với nhiều bước điều tra và xem xét.

II. Vấn đề và thách thức trong pháp luật chống bán phá giá

Mặc dù có những quy định rõ ràng, nhưng việc thực thi pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn gặp nhiều thách thức. Các doanh nghiệp Việt Nam thường phải đối mặt với những vụ kiện chống bán phá giá từ các đối tác thương mại, đặc biệt là từ Hoa Kỳ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu mà còn gây ra những thiệt hại lớn cho nền kinh tế.

2.1. Những khó khăn trong việc thực thi pháp luật tại Việt Nam

Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật chống bán phá giá. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ các quy định, dẫn đến việc không thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả. Hệ thống pháp luật còn thiếu tính đồng bộ và chưa đáp ứng kịp thời với các thay đổi trong thương mại quốc tế.

2.2. Thách thức từ các vụ kiện chống bán phá giá tại Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một trong những thị trường khó tính nhất với nhiều quy định nghiêm ngặt về chống bán phá giá. Các doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với các vụ kiện từ các đối thủ cạnh tranh, điều này không chỉ làm tăng chi phí mà còn ảnh hưởng đến uy tín và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường quốc tế.

III. Phương pháp và giải pháp chống bán phá giá hiệu quả

Để đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, các doanh nghiệp Việt Nam cần áp dụng những phương pháp và giải pháp hiệu quả. Việc nâng cao nhận thức về pháp luật và cải thiện quy trình sản xuất là rất cần thiết để giảm thiểu rủi ro.

3.1. Nâng cao nhận thức về pháp luật chống bán phá giá

Doanh nghiệp cần được trang bị kiến thức đầy đủ về các quy định pháp luật chống bán phá giá của cả Việt Nam và Hoa Kỳ. Việc tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thương mại quốc tế.

3.2. Cải thiện quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm

Để giảm thiểu rủi ro bị kiện chống bán phá giá, doanh nghiệp cần cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc này không chỉ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về pháp luật chống bán phá giá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã chỉ ra nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá cần được thực hiện một cách linh hoạt và hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

4.1. Các vụ kiện điển hình và bài học kinh nghiệm

Các vụ kiện chống bán phá giá từ Hoa Kỳ đối với hàng hóa Việt Nam đã chỉ ra rằng doanh nghiệp cần chủ động trong việc chuẩn bị hồ sơ và chứng minh tính hợp pháp của sản phẩm. Những bài học từ các vụ kiện này sẽ giúp doanh nghiệp rút ra kinh nghiệm quý giá cho các hoạt động xuất khẩu sau này.

4.2. Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Nghiên cứu cho thấy rằng việc hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Các khuyến nghị bao gồm việc cải thiện quy trình điều tra và áp dụng các biện pháp bảo vệ hiệu quả hơn cho ngành sản xuất trong nước.

V. Kết luận và tương lai của pháp luật chống bán phá giá

Pháp luật chống bán phá giá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện. Việc so sánh và học hỏi từ kinh nghiệm của nhau sẽ giúp cả hai quốc gia cải thiện hệ thống pháp luật và bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn.

5.1. Tương lai của pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ và hiệu quả sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu.

5.2. Hướng đi cho doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai

Doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm hiểu và áp dụng các quy định pháp luật chống bán phá giá để bảo vệ quyền lợi của mình. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện quy trình sản xuất sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls so sánh pháp luật về chống bán phá giá hàng hóa giữa việt nam và hoa kỳ 07001

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ HOA KỲ VỀ KHÁI NIỆM BÁN PHÁ GIÁ VÀ CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA 1. Khái niệm bán phá giá 1. Bán phá giá dưới góc độ kinh tế Bán phá giá luôn đi liền với cạnh tranh và là một trong những hình thức cạnh tranh bất chính. Việc cạnh tranh dựa trên cơ sở chất lượng và giá thành là hình thức cạnh tranh lành mạnh, trong đó yếu tố giá được chú trọng hơn cả.

Tuy nhiên, thay vì nghiên cứu nhằm đưa ra được các chiến lược hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh lành mạnh thì có những doanh nghiệp lại dùng chiêu bài bán phá giá để hạ bệ đối thủ. Những năm gần đây, khi hoạt động kinh doanh toàn cầu lớn mạnh, mọi khía cạnh của vấn đề giao thương quốc tế phải được giải quyết trong khuôn phép của luật lệ, người ta mới bàn đến tính công bằng và trung thực trong cạnh tranh. Cạnh tranh cũng phải tuân thủ những nguyên tắc ấy, cụ thể là cạnh tranh phải trung thực và lành mạnh (fair competition) trong một nền thương mại đa phương, phải tạo ra sân chơi bình đẳng (level playing field) đối với mọi thành viên, trong đó, sự cố ý làm sai lệch mối tương quan cạnh tranh để giành lợi thế không công bằng (unfair advantage) đều đáng lên án và có thể bị trừng phạt. Dưới góc độ kinh tế, việc bán phá giá đem lại những lợi ích nhất định sau: Thứ nhất, dưới góc độ của nước xuất khẩu, bán phá giá tạo điều kiện cho nhà sản xuất có điều kiện phát huy tối đa năng lực sản xuất, khả năng tăng lợi nhuận và thâm nhập thị trường mới; Thứ hai, khi bán phá giá, các doanh nghiệp thực hiện bán phá giá có khả năng đánh bại đối thủ, loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài.

Và tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh và mức độ phá giá, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể trở thành doanh nghiệp độc quyền, độc quyền nhóm, qua đó tận dụng lợi thế của doanh nghiệp độc quyền để tăng lợi nhuận. Bán phá giá nhằm mục tiêu chính trị thao túng các nước khác [31]. Chẳng hạn như, Chính phủ Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá gạo bây giờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác. Hoa Kỳ sẵn sàng bỏ ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá giá.

Điều này làm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu vòng phong toả của Hoa Kỳ. Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo của Hoa Kỳ khoảng 400USD/ tấn, nhưng các nhà xuất khẩu gạo Hoa Kỳ sẵn sàng mua với giá 500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến 800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới chỉ bằng 60 - 70%, thậm chí đến 40% giá mua. Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra. Như vậy, Hoa Kỳ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 - 800 triệu USD/ năm để tài trợ giá xuất khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình.

Chính vì điều này mà mặc dù sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Hoa Kỳ lại thao túng giá gạo trên thị trường thế giới [12]. Thứ ba, trong một số trường hợp, doanh nghiệp có mức tồn kho lớn, để giải phóng hàng tồn kho, doanh nghiệp có thể bán phá giá để giải phóng hàng tồn kho hoặc trong trường hợp khan hiếm ngoại tệ hoặc tìm kiếm ngoại tệ trong trường hợp khẩn cấp, doanh nghiệp có thể thực hiện bán phá giá. Như vậy, việc bán phá giá hàng hóa mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được những mục đích kinh tế nhất đinh. Những hành động bán phá giá không nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh thì không bị coi là bán phá giá (ví dụ: bán hàng tươi sống, bán hàng thanh lý, bán hàng hạ giá theo mùa, bán hàng tồn kho đã lỗi thời về kiểu dáng và công nghệ nhưng vẫn còn thời hạn sử dụng; bán hàng sắp hết hạn sử dụng.

Bán phá giá bị coi là hành vi thương mại quốc tế không lành mạnh của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp. Để tạo dựng lại thế cạnh tranh cân bằng giữa sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu, bảo vệ thị trường nội địa chống lại các hành vi cạnh tranh quốc tế không lành mạnh, các quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Do đó mục tiêu của các biện pháp chống bán phá giá là để bù đắp lại những thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do hành vi bán phá giá gây ra. Mặc dù, bản chất của các biện pháp chống bán phá giá được cho là để đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế nhưng trên thực tế không đơn giản như vậy.

Đối với các nước đang phát triển như Ấn Độ, Brazil, Achentina… sử dụng các biện pháp chống bán phá giá để bảo vệ nền sản xuất còn non trẻ của chính mình. Đối với các quốc gia phát triển, các biện pháp chống bán phá giá vừa là công cụ để hạn chế mở cửa thị trường, hạn chế sự thâm nhập thị trường từ các quốc gia đang phát triển và vừa là cái van an toàn cần thiết cho chính họ. Như trên đã nêu, các quốc gia có quyền tự do trong việc xây dựng các thủ tục để xác định hiện tượng bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào nước mình. Dẫn đến, nhiều quốc gia đã lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá một cách tùy tiện để hạn chế nhập khẩu, hơn là để đạt được các mục tiêu khắc phục có tính hạn chế mà Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho phép.

Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực này thì chống bán phá giá không phải là chính sách công mà là chính sách tư. Đó là một phương tiện mà một đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng quyền lực của Nhà nước để giành lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ khác. Xét từ góc độ bảo hộ sản xuất trong nước, bên hưởng lợi là ngành công nghiệp nội địa và nạn nhân của biện pháp này là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài. Chúng ta có thể nhận thấy rõ hơn bản chất và mục đích này thông qua một bản báo cáo của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com … mục đích của pháp luật chống bán phá giá và chống trợ cấp không phải là bảo vệ người tiêu dùng mà là bảo vệ các nhà sản xuất… Thực chất, chức năng của pháp luật chống bán phá giá là để bảo vệ cho các công ty và những người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất ở Hoa Kỳ.

Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi người hưởng lợi từ các lợi ích kinh tế này là các nhà sản xuất, ngược lại các chi phí kinh tế sẽ do người tiêu dùng gánh chịu [12]. Hơn nữa, các quy định chống bán phá giá là một biện pháp khắc phục thương mại mà các thành viên của WTO đã đồng ý rằng là cần thiết để duy trì hệ thống thương mại đa phương. Động cơ kinh tế để sử dụng biện pháp chống bán phá giá là nhằm để duy trì thương mại công bằng. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần đây cho thấy có tới 90% các biện pháp này không nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh hoặc thương mại công bằng.

Nói cách khác, biện pháp được coi là hợp pháp của WTO, đến lượt nó, quay lại bóp méo dòng chảy thương mại quốc tế và hạn chế sự phát triển nội tại khách quan của hoạt động này, đi ngược lại mục đích của WTO. Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với những ưu thế về lực lượng lao động trẻ, đông về số lượng, rẻ về giá thành, trong bối cảnh thực hiện chính sách tăng cường xuất khẩu. Việc hàng hóa Việt Nam là đối tượng chịu sự áp đặt các biện pháp chống bán phá giá của nhiều thị trường khác là điều không thể tránh khỏi. Do đó các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm hiểu đầy đủ các quy định về bán phá giá, chống bán phá giá của WTO, cũng của như các quốc gia nhập khẩu, để từ đó xây dựng các biện pháp đối phó một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn.

Bán phá giá dưới góc độ pháp lý Khái niệm pháp lý về bán phá giá lần đầu tiên được ghi nhận trong đạo luật thuế hải quan Canađa được thông qua ngày 10 tháng 8 năm 1904. Sau khi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được ban hành, pháp luật chống bán phá giá của Canada đã tỏ ra có tác dụng của nó trong việc bảo hộ các nhà sản xuất nội địa trước luồng hàng hóa rất rẻ từ nước ngoài tràn vào. Vì vậy, pháp luật chống bán phá giá của nước này đã nhanh chóng trở thành hình mẫu để các nước khác noi theo. Cho đến năm 1921, mô hình pháp luật chống bán phá giá của Canada đã được du nhập vào nhiều nước như Nam Phi (1914), Mỹ (1916), Astralia (1921), Vương quốc Anh (1921), New Zealand (1921).

Tuy nhiên, các nước này cũng không hoàn toàn du nhập một cách nguyên vẹn mô hình của Canada mà có sự sửa đổi và phát triển cho phù hợp [31]. Khi chống bán phá giá đã trở thành một nội dung quan trọng trong pháp luật thương mại quốc tế thì khái niệm bán phá giá cũng được ghi nhận tại Điều VI Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1947 (gọi tắt là GATT) và trong Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994 của Tổ chức thương mại thế giới (ADA).1 của ADA quy định: Trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường [47]. Hai khái niệm quan trọng này là giá trị thông thường và thiệt hại về vật chất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ