Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. Khái niệm và các đặc điểm của ngƣời chƣa thành niên phạm tội 1. Khái niệm người chưa thành niên Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, không phải từ khi sinh ra con người đã có nhận thức đầy đủ về tự nhiên, xã hội và về chính mình. Khả năng nhận thức được những đòi hỏi của xã hội không tồn tại một cách bẩm sinh mà là kết quả của quá trình sống, quá trình hoạt động giao tiếp trong môi trường xã hội trong một thời gian nhất định.
Khi khả năng nhận thức những đòi hỏi của con người đạt đến một giới hạn nhất định thì họ mới hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong đời sống xã hội, mới thấy được những đòi hỏi của xã hội đối với họ và từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành vi mà mình đã thực hiện. Người chưa thành niên là một đối tượng đặc biệt, được các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hết sức quan tâm. Nghiên cứu khái niệm người chưa thành niên là nghiên cứu về phạm vi các đối tượng được coi là người chưa thành niên trong quy định pháp luật quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam hiện hành. Những quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như văn bản pháp luật Việt Nam đã căn cứ vào sự phát triển về thể chất và tinh thần của con người theo độ tuổi để lấy độ tuổi làm ranh giới xác định người chưa thành niên và người đã thành niên.
Độ tuổi được coi là người chưa thành niên được xác định theo hai phạm vi, gồm phạm vi pháp luật quốc tế và phạm vi pháp luật Việt Nam. - Trong phạm vi pháp luật quốc tế thì độ tuổi được coi là người chưa thành niên được quy định trong các văn bản sau: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Tại quy tắc 2.1 mục a của Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990 có quy định: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên. Theo quy định trong Quy tắc này thì người chưa thành niên được xác định là người dưới 18 tuổi.
+ Trong hướng dẫn Riyadh của Liên Hợp Quốc về việc phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội (Hướng dẫn Riyadh năm 1990), tuy các quy định không nêu ra một cách cụ thể về khái niệm người chưa thành niên nhưng cũng đã thể hiện rõ tư tưởng người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi. + Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989 cũng xác định độ tuổi được coi là trẻ em khi quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn” [12, tr. Từ các văn bản nêu trên, có thể xác định: Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em trong quy định pháp luật quốc tế hiện nay có sự đồng nhất với nhau, đều là người dưới 18 tuổi; Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên thì được coi là người đã thành niên và đồng thời cũng không còn là trẻ em. Tuy nhiên, đối với các quốc gia khác nhau thì việc xác định độ tuổi cho người chưa thành niên còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa, lịch sử cũng như các yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nên Công ước quốc tế về quyền trẻ em vẫn để ngỏ cho các quốc gia thành viên của Công ước quyền xác định độ tuổi thành niên sớm hơn mốc 18 tuổi nhưng phải quy định trong pháp luật của quốc gia đó.
- Ở phạm vi pháp luật Việt Nam thì độ tuổi được coi là người chưa thành niên được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, cụ thể như sau: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Theo quy định của pháp luật dân sự thì việc xác định độ tuổi được coi là người chưa thành niên theo Điều 18 Bộ luật dân sự 2005: “Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [22, tr. + Trong pháp luật lao động, độ tuổi của người chưa thành niên được quy định tại Điều 161 Bộ luật lao động 2012 “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. + Theo quy định của pháp luật hình sự thì việc xác định độ tuổi của người chưa thành niên phải căn cứ vào Điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999. Dựa vào quy định tại Điều luật này thì người chưa thành niên phạm tội là người dưới 18 tuổi.
Dựa vào các quy định nêu trên, có thể thấy được: Các văn bản pháp luật Việt Nam cũng căn cứ vào độ tuổi để xác định ranh giới giữa người đã thành niên và người chưa thành niên, nhưng vẫn có sự khác biệt giữa quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự và Bộ luật lao động trong cách thức phân định ranh giới này khi Bộ luật dân sự sử dụng cụm từ “Chưa đủ” còn Bộ luật lao động và Bộ luật hình sự sử dụng từ “dưới”. Tuy nhiên, trong quy định của các văn bản đã nêu thì người đã thành niên đều được xác định là người tròn 18 tuổi và đủ ngày, đủ tháng. Còn người chưa thành niên là người chưa tròn 18 tuổi. Như vậy, việc xác định độ tuổi của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật Việt Nam có sự đồng nhất với các văn bản pháp luật quốc tế.
Bên cạnh đó, khái niệm trẻ em trong quy định của pháp luật Việt Nam lại không đồng nhất với khái niệm trẻ em trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc. Theo quy định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” trong khi Công ước này quy định “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi”. Tuy nhiên, việc quy định trẻ em là người có độ tuổi dưới 16 của pháp luật Việt Nam không trái với quy định của Công ước về quyền trẻ em vì Công ước 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này để ngỏ cho các quốc gia thành viên quyền xác định độ tuổi thành niên sớm hơn mốc 18 tuổi như phân tích trên. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em là hoàn toàn khác biệt khi xác định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, còn trẻ em là người chưa đủ 16 tuổi.
Sự tồn tại của hai khái niệm khác nhau như trên có thể gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên. Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ người chưa thành niên được sử dụng dưới hai góc độ vừa là chủ thể của tội phạm vừa là đối tượng tác động của tội phạm. Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm, độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội được giới hạn hẹp hơn so với độ tuổi của người chưa thành niên trong các ngành luật khác, đó là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi. Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật hình sự không trái với những quy định của Chương này” [23, tr.
Như vậy, người chưa đủ 14 tuổi là người không đủ năng lực trách nhiệm hình sự vì ở độ tuổi này, trí tuệ của họ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ để hành động nên họ không bị coi là người có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện. Tuy nhiên, Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 cũng có sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong lứa tuổi người chưa thành niên: “ …Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [23, tr. Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý.
Cơ sở của việc miễn giảm này là xuất phát từ việc người chưa thành niên ở độ tuổi này do khả năng nhận thức xã hội còn non nớt, bồng bột, khả năng điều khiển hành vi còn hạn chế bởi vậy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi cho đến dưới 18 tuổi thì do đã có đủ khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội và điều khiển hành vi của mình nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình thực hiện. Để xác định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên thì phải xác định được họ đã thực hiện một trong những hành vi tội phạm được mô tả trong Bộ luật hình sự. Điều 8 Bộ luật hình sự định nghĩa tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý và vô ý.
Như vậy để xác định một người nào đó phải chịu trách nhiệm hình sự thì phải xác định đủ các yếu tố sau: Sự việc xảy ra có đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự; Người thực hiện hành vi phạm tội đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự; Sự việc xảy ra do lỗi của người đó.