Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài của luận án 1. Các công trình nghiên cứu trong nước 1. Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học - Phan Thị Lan Phương (2015), “Quyền trẻ em trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam - những đảm bảo pháp lý”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả đã xây dựng khái niệm quyền trẻ em trên cơ sở lý luận quyền con người, từ góc độ này cho thấy, quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện. “Quyền trẻ em chính là biện pháp bảo đảm cho trẻ em không chỉ là những người tiếp thu thụ động tình thương hay lòng tốt của bất kỳ ai mà còn chủ thể của quyền”2. Tác giả cũng phát hiện những đặc trưng cơ bản của quyền trẻ em như: quyền trẻ em được ưu tiên thực hiện, một số quyền mà trẻ em chưa được thực hiện và cũng có những quyền riêng chỉ trẻ em mới có, các quyền trẻ em chưa được thực hiện bởi chủ thể chính trẻ em mà cần phụ thuộc vào các cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện quyền trẻ em. Tác giả cũng đã diễn giải và xây dựng khái niệm bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em đó là hệ thống các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của trẻ em; các thiết chế pháp lý và xã hội; hệ thống dịch vụ pháp lý; hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và cơ chế thực thi nhằm đảm bảo trẻ em được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp.
- Tăng Thị Thu Trang (2016), “Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Khoa học xã hội, Hà Nội. Tác giả đã đánh giá và xây dựng các khái niệm về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó xác định trẻ em phải làm việc xa gia đình kể cả trong trường hợp các công việc được pháp luật công nhận đều thuộc trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tác giả đã phân loại quyền trẻ em theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, từ đó, xác định khái niệm quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và xây dựng các đặc thù của quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo pháp luật Việt Nam. - Nguyễn Thị Huyền (2012), “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài về bảo vệ quyền trẻ em”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong công trình này, tác giả đã sử dụng khái niệm trẻ em theo Công ước Quốc tế và 2 Phan Thị Lan Phương “Quyền trẻ em trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam - những đảm bảo pháp lý”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, trang 27. 6 một số nước khác như: Điều 4 Luật Phúc lợi trẻ em năm 1947 của Nhật Bản; Điều 2 Luật Bảo vệ người chưa thành niên của Trung Quốc; Điều 1 Luật liên bang Nga số 124-FZ sửa đổi ngày 21/7/1998. để chứng minh trẻ em là người chưa thành niên có độ tuổi dưới 18. Luận văn đã so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia trong việc bảo vệ quyền trẻ em và nhận định rằng: Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em đều xuất phát từ việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
- Nguyễn Vương Thùy Dương, (2013)“Trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả xây dựng khái niệm “Quyền trẻ em là quyền tự nhiên, cơ bản của con người, gắn liền với nhu cầu, lợi ích tự nhiên của con người, tồn tại một cách khách quan, được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của trẻ em”3. Tác giả cũng khẳng định tại trang 17 của Luận văn về trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình khi là nạn nhân của các hành vi xâm hại trực tiếp đến quyền được tôn trọng về tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm, đặc biệt là quyền được tôn trọng và bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em do những người có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ thân thích trong gia đình thực hiện đối với trẻ, gây ra những tổn thương nặng nề về thể chất, tâm lý và làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bình thường về thể chất, nhân cách của trẻ. Tác giả phân tích nguyên nhân và kiến nghị: Cần xử phạt nghiêm khắc hơn nữa đối với các hành vi xâm phạm tình dục ở trẻ em do những người thân trong gia đình thực hiện.
Trong luận văn này, tác giả thể hiện tương đối logic và rõ ràng về cách xây dựng khái niệm từ quyền trẻ em, hành vi xâm hại tình dục với trẻ trong gia đình, trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình. - Hoàng Thị Thùy Dung (2014), “Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả trình bày các khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và các quyền cơ bản của trẻ em trong Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Tại trang 6 của Luận văn “Trẻ em là một nhóm người ở một độ tuổi nhất định, trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có những đặc điểm về sức khỏe, tâm sinh - lý khác với những nhóm khác trong xã hội và được hưởng những quy chế pháp lý đặc thù” 4.
Đồng thời, theo tác giả, quyền cơ bản của trẻ em là các quyền được Nhà nước quy định có tính chất quan trọng, cần thiết và phù hợp với đặc điểm của trẻ em. - Nguyễn Thanh Hương (2014), “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam về phòng, chống bạo lực gia đình”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học 3 Nguyễn Vương Thùy Dương, Trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013, trang12. 4 Hoàng Thị Thùy Dung, “Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014, trang 6. 7 Quốc gia Hà Nội.
Luận văn đã trình bày khái niệm bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật là hệ thống các biện pháp, cách thức, cơ chế hoạt động được pháp luật quy định nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em được thực hiện, đồng thời bảo đảm có hiệu quả việc phòng ngừa, can thiệp, giải quyết tình trạng trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Tác giả có ý kiến lý giải, bảo vệ trẻ em trước hết là tôn trọng, bảo đảm các quyền trẻ em được thực hiện, tạo điều kiện về cơ chế cách thức để trẻ em được tự mình thực hiện các quyền của mình. Biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ trẻ em là bằng pháp luật; bảo vệ, chăm sóc trẻ là ngăn ngừa không để trẻ bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; bảo vệ trẻ em còn được hiểu là có các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm quyền trẻ em. - Nguyễn Thị Thu Na (2015), “Bạo lực gia đình đối với trẻ em - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Tác giả đã xây dựng khái niệm trẻ em trên cơ sở phân tích các ngành luật tại Việt Nam như Luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật Hình sự, Bộ luật Lao động để khẳng định “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi còn non nớt về thể chất lẫn tinh thần có những quyền và nghĩa vụ được pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện trên thực tế”5. Tác giả nhận định: Các hành vi bạo lực từ các thành viên trong gia đình với trẻ em bằng sức mạnh gây tổn hại và có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội (trang 9). Tác giả cũng đã trình bày các hậu quả với trẻ em khi trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình, phân tích nguyên nhân,. từ đó kiến nghị các biện pháp khắc phục mà chủ yếu là nâng cao nhận thức của gia đình và xã hội đối với quyền cơ bản của trẻ em thông qua việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
- Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Trường (2012), “Pháp luật về quyền trẻ em và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội (do TS. Ngô Thị Hường làm chủ nhiệm đề tài). Đề tài gồm 15 chuyên đề nghiên cứu tổng hợp các vấn đề về trẻ em và thực tiễn thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam được chia làm 02 phần: tổng thuật nghiên cứu và các chuyên đề. Tổng thuật nghiên cứu, đề tài đã tổng hợp lại một cách chung nhất kết quả nghiên cứu về quyền trẻ em và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam, các chuyên đề làm rõ thêm về các kết quả nghiên cứu.
Từ Chuyên đề 1 đến Chuyên đề 5, đề tài đã nghiên cứu và làm rõ các vấn đề mang tính lý luận về quyền trẻ em như khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em, giới thiệu các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam: Luật Hiến pháp, Luật Quốc tịch, Luật HN&GĐ. đều bảo vệ quyền trẻ em theo những cách thức, đặc thù riêng của mỗi ngành luật. Tại Chuyên đề 3 có nhận định: “Chế định kết hôn, mặc dù không có điều luật nào trực tiếp quy định về quyền trẻ em, nhưng thông qua 5 Nguyễn Thị Thu Na (2015), “Bạo lực gia đình đối với trẻ em - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2015 trang 6,7. 8 việc quy định các điều kiện kết hôn, có thể khẳng định rằng, khi các bên nam nữ đáp ứng được các điều kiện kết hôn như độ tuổi kết hôn, tự nguyện kết hôn, không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn, có đăng ký kết hôn đó chính là cơ sở để xây dựng một gia đình hạnh phúc, là tổ ấm cho trẻ em sau này” 6.
Đây chính là điều kiện để các quyền cơ bản của trẻ em được đảm bảo trên thực tế.