Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hạnh thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, mã số 9 38 01 03), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Thị Hường và TS. Nguyễn Phương Lan, bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trẻ em là đối tượng chưa hoàn thiện về thể chất và trí tuệ, cần sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt từ gia đình, nhà trường và xã hội. Tại Việt Nam, việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là tư tưởng xuyên suốt qua các thời kỳ. Ngày 20/02/1990, Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ ba trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRC năm 1989). Các đạo luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000 và 2014 đều quán triệt nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế cùng sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm phát sinh nhiều vấn đề thực tiễn phức tạp: tình trạng trẻ em bị xâm hại, bạo lực gia đình, bỏ rơi, ảnh hưởng tiêu cực từ việc cha mẹ ly hôn, hoặc các tranh chấp liên quan đến mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Pháp luật hiện hành vẫn còn những kẽ hở như: thiếu chế tài hoặc chế tài chưa đủ nghiêm khắc để xử lý thành viên gia đình vi phạm nghĩa vụ đối với trẻ em; tình trạng lạm dụng quyền giáo dục con cái; quy định về cấp dưỡng và quyền nuôi dưỡng còn vướng mắc khi thi hành. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình về bảo vệ quyền trẻ em là một đòi hỏi cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật hôn nhân và gia đình; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình và cơ chế thi hành nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền của trẻ em.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về trẻ em, đặc trưng cơ bản của trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
  2. Làm rõ lý luận về bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật hôn nhân và gia đình; phân tích vai trò của luật hôn nhân và gia đình đối với sự phát triển và bảo vệ quyền trẻ em.
  3. Phân tích, đánh giá các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo vệ quyền trẻ em, chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật thực định.
  4. Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong bảo vệ quyền trẻ em, chỉ rõ các chuyển biến tích cực, vướng mắc và nguyên nhân của những tồn tại trong giai đoạn 2015–2020.
  5. Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình cũng như nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình; các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn thi hành các quy định này.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quan hệ hôn nhân và gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có sự so sánh, đối chiếu với các văn bản pháp luật liên quan (như Bộ luật Dân sự, Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Hình sự, văn bản hướng dẫn áp dụng). Luận án không nghiên cứu các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
  • Phạm vi thời gian và không gian: Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu:
    • Phan Thị Lan Phương (2015), Quyền trẻ em trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam - những đảm bảo pháp lý, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Xây dựng khái niệm quyền trẻ em dưới góc độ quyền con người, chỉ ra các đặc quyền tự nhiên và cơ chế bảo đảm pháp lý.
    • Tăng Thị Thu Trang (2016), Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Phân loại quyền trẻ em, xác định nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo chuẩn mực quốc tế và pháp luật Việt Nam.
    • Nguyễn Thị Huyền (2012), Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài về bảo vệ quyền trẻ em, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: So sánh tiêu chí độ tuổi trẻ em tại Nhật Bản (Luật Phúc lợi trẻ em 1947), Trung Quốc (Luật Bảo vệ người chưa thành niên), Liên bang Nga (Luật số 124-FZ).
    • Nguyễn Vương Thùy Dương (2013), Trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Tiếp cận khái niệm quyền trẻ em gắn liền với sự bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, tình dục và trách nhiệm xử lý nghiêm các hành vi do người thân thực hiện.
    • Hoàng Thị Thùy Dung (2014), Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Phân tích quyền cơ bản theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
    • Nguyễn Thanh Hương (2014), Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam về phòng, chống bạo lực gia đình, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Tiếp cận bảo vệ quyền trẻ em bằng các cơ chế phòng ngừa, can thiệp và xử lý vi phạm trong gia đình.
    • Nguyễn Thị Thu Na (2015), Bạo lực gia đình đối với trẻ em - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Khảo cứu tác hại của bạo lực thể chất, tinh thần, kinh tế đối với trẻ em dưới 16 tuổi.
    • Đề tài NCKH cấp Trường Đại học Luật Hà Nội (2012/2015), Pháp luật về quyền trẻ em và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam do TS. Ngô Thị Hường làm chủ nhiệm: Gồm 15 chuyên đề nghiên cứu toàn diện từ lý luận đến các quyền cụ thể, phân tích vai trò của chế định kết hôn và nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật.
  • Sách chuyên khảo và bài báo khoa học:
    • Nguyễn Trọng An (2014), Những điều cần biết về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật: Phân tích vấn đề rối nhiễu tâm trí ở trẻ em (chiếm khoảng 20% học sinh lớp 2, lớp 3).
    • Mai Huy Bích (2010), Quyền trẻ em và yếu tố văn hóa, Tạp chí Nghiên cứu con người: Đánh giá tính tương đối về văn hóa đối với quan niệm quyền trẻ em giữa phương Tây và phương Đông.
    • Nguyễn Thị Lan (2011), Việc nuôi con nuôi giữa bố dượng hoặc mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng theo Luật nuôi con nuôi, Tạp chí Luật học.
    • Nguyễn Phương Lan (2013), Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em, Tạp chí Luật học.
    • Quách Thị Quế (2015), Thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại Việt Nam, Tạp chí Lao động và Xã hội.
    • Ngô Thị Hường (2020), Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Luật học.

Các công trình nghiên cứu quốc tế

  • S. Pronina (2012), Bảo vệ gia đình, bảo vệ trẻ em - giữ gìn tương lai của chúng ta (Nga).
  • Holmberg Barbro và James Himes (2005), Trách nhiệm của cha mẹ trong mối tương quan với nhà nước - Quyền trẻ em biến nguyên tắc thành hành động (Thụy Điển): Đưa ra mô hình tam giác quan hệ giữa trẻ em, gia đình và nhà nước.
  • Joel Feinberg (1980), A Child’s Right to an Open Future: Phân định 3 nhóm quyền (quyền chỉ của người lớn, quyền chung cho cả hai, và quyền đặc thù của trẻ em).
  • Steffan De Vylder (2000), Macroeconomic Policies and Child’s Rights: Tác động của chính sách kinh tế vĩ mô đối với việc bảo đảm quyền trẻ em tại các nước đang phát triển.
  • David Oswell (2013), The Agency of Children: Nghiên cứu quyền tự quyết, vị thế chủ thể của trẻ em trong bối cảnh công nghệ số và toàn cầu hóa.
  • Wolfgang Benedek (2008), Tìm hiểu về quyền con người, Nxb. Tư pháp: Nhấn mạnh việc lồng ghép trao quyền cho trẻ em, tránh việc bảo vệ thái quá làm mất đi năng lực tự chủ của trẻ.
Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu Trọng tâm đã nghiên cứu Khoảng trống luận án giải quyết
Lý luận chung về quyền trẻ em Phan Thị Lan Phương (2015), Hoàng Thị Thùy Dung (2014) Khái niệm quyền trẻ em theo luật nhân quyền và Luật Trẻ em 2004/2016. Xây dựng lý luận chuyên sâu về quyền trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình gắn với quy luật phát triển tâm lý, sinh học.
Bảo vệ trẻ em trong gia đình Nguyễn Vương Thùy Dương (2013), Nguyễn Thanh Hương (2014), Nguyễn Thị Thu Na (2015) Bạo lực gia đình, xâm hại tình dục trẻ em, xử lý hành vi bạo hành đơn lẻ. Đánh giá hệ thống các chế định hôn nhân gia đình (kết hôn, quan hệ nhân thân, tài sản, xác định cha mẹ con, ly hôn, nghĩa vụ thành viên khác).
Chế định chuyên ngành HN&GĐ Ngô Thị Hường (2020), Nguyễn Thị Lan (2011), Quách Thị Quế (2015) Hạn chế quyền cha mẹ, nuôi con nuôi, quyền tham gia của trẻ em. Đánh giá tổng thể thực trạng thi hành Luật HN&GĐ 2014 giai đoạn 2015–2020, đề xuất sửa đổi đồng bộ quy phạm và cơ chế thực thi.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận quyền trẻ em dưới góc độ luật nhân quyền, bảo trợ xã hội hoặc giải quyết các hành vi vi phạm riêng lẻ (như xâm hại, bạo lực gia đình). Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và chuyên sâu cơ chế bảo vệ quyền trẻ em dưới góc độ ngành Luật Hôn nhân và gia đình trên nền tảng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đồng thời chưa phân tích thấu đáo sự tác động của nếp sống gia đình, quan hệ tài sản, nhân thân và chế tài dân sự - gia đình đối với các nhóm quyền của trẻ em.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

  • Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng gia đình và chăm sóc trẻ em.
  • Lý luận về quyền con người: Quyền trẻ em là một bộ phận hữu cơ của quyền con người nhưng mang tính đặc thù do đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ em.
  • Các chuẩn mực pháp lý quốc tế: Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (nguyên tắc "lợi ích tốt nhất của trẻ em" - Điều 3), Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn về Quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (UDHR), Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR).
  • Khung phân tích sự phát triển của trẻ em: Kết hợp kiến thức y sinh học và tâm lý học phát triển. Luận án dẫn chiếu phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các nghiên cứu nhi khoa chia quá trình phát triển từ 0 đến 18 tuổi thành các giai đoạn:
    1. Sơ sinh: 0 – 1 tháng tuổi;
    2. Bú mẹ (nhũ nhi): 1 – 23 tháng tuổi;
    3. Tiền học đường: 2 – 5 tuổi;
    4. Nhi đồng: 6 – 12 tuổi;
    5. Vị thành niên: 13 – 18 tuổi (với sự khác biệt về dậy thì giữa trẻ em gái từ 13–14 đến 17–18 tuổi và trẻ em trai từ 15–16 đến 19–20 tuổi).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc loại hình nghiên cứu khoa học pháp lý định tính kết hợp xã hội học pháp luật, sử dụng các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 4 để xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm quyền trẻ em, vai trò của luật hôn nhân gia đình và các kiến nghị lập pháp.
  • Phương pháp hệ thống hóa và logic học: Phân nhóm các quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình tương ứng với các nhóm quyền trẻ em (quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền phát triển, quyền tham gia).
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với các đạo luật năm 1959, 1986, 2000; so sánh với các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Trẻ em 2016, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Hộ tịch 2014; đối chiếu với quy định về độ tuổi trẻ em tại Trung Quốc, Nhật Bản, Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan.
  • Phương pháp xã hội học pháp luật: Quan sát, khảo sát thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật, phân tích tài liệu thực tế trong giai đoạn 2015–2020 tại Chương 3 để nhận diện vướng mắc khi thực hiện quyền nuôi con, cấp dưỡng, xác định cha mẹ con và hạn chế quyền cha mẹ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và các văn kiện điều ước quốc tế.
  • Báo cáo tổng kết, số liệu công bố chính thức từ các cơ quan chức năng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
  • Các công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề tài NCKH cấp trường, sách chuyên khảo, bài viết trên các tạp chí luật học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em dưới góc độ luật học, xã hội học và văn hóa học. Tác giả phân tích các kết quả nghiên cứu đã đạt được về:

  • Các khái niệm cơ bản (trẻ em, quyền trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em);
  • Nội dung bảo vệ 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (nhóm quyền được sống, khai sinh, có quốc tịch, biết cha mẹ; nhóm quyền được bảo vệ; nhóm quyền được phát triển; nhóm quyền được tham gia);
  • Xác lập 4 câu hỏi nghiên cứu, 4 giả thuyết nghiên cứu và các định hướng giải quyết xuyên suốt từ lý luận, thực trạng pháp luật thực định đến các giải pháp hoàn thiện.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em theo luật hôn nhân và gia đình

Chương 2 giải quyết nền tảng lý luận của đề tài thông qua các nội dung chính:

  • Khái niệm và tiêu chí xác định trẻ em: Luận chứng việc xác định trẻ em dựa trên độ tuổi là tiêu chuẩn pháp lý phổ biến và khoa học. Đối chiếu quy định của Công ước CRC (dưới 18 tuổi), Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam (dưới 16 tuổi) và chỉ rõ khái niệm "người chưa thành niên" trong pháp luật dân sự rộng hơn khái niệm "trẻ em" (bao gồm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi). Phân tích sự phát triển thể chất (sự tăng sinh tế bào, tác động của hoóc-môn HGH) và tâm lý theo 5 giai đoạn lứa tuổi từ sơ sinh đến vị thành niên.
  • Khái niệm và đặc điểm quyền trẻ em: Quyền trẻ em là quyền con người áp dụng cho trẻ em, mang 4 đặc điểm:
    1. Xuất phát từ quyền con người, mang tính tự nhiên gắn với quá trình phát triển của trẻ em;
    2. Mang tính phổ biến và tính đặc thù;
    3. Mang tính pháp lý, được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật, quyết định bởi trình độ kinh tế - xã hội và văn hóa;
    4. Không chỉ do trẻ em tự thực hiện mà chủ yếu được bảo đảm thực hiện bởi các chủ thể khác (đặc biệt là cha mẹ và gia đình).
  • Khái niệm và vai trò bảo vệ quyền trẻ em theo luật HN&GĐ: Làm rõ các cấp độ bảo vệ (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp), các biện pháp pháp lý và xác định vai trò trung tâm của môi trường gia đình.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; ảnh hưởng của văn hóa, phong tục, tập quán Á Đông (quan niệm gia trưởng, coi trọng quyền bề trên) đối với nhận thức và hành vi bảo vệ quyền trẻ em.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình về bảo vệ quyền trẻ em

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2015–2020 theo từng nhóm chế định:

  • Quy định kết hôn: Bảo vệ quyền trẻ em gián tiếp thông qua độ tuổi kết hôn (nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi), sự tự nguyện, cấm tảo hôn, cấm kết hôn cận huyết thống nhằm bảo đảm giống nòi và môi trường gia đình lành mạnh cho đứa trẻ sinh ra; giải quyết hậu quả pháp lý về con chung khi hủy kết hôn trái pháp luật hoặc nam nữ sống chung không đăng ký kết hôn.
  • Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng: Phân tích trách nhiệm nhân thân và nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu và phát triển của con cái.
  • Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con:
    • Nghĩa vụ nhân thân: Yêu thương, tôn trọng thể xác, nhân phẩm, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục không bạo lực, không phân biệt đối xử giữa các con.
    • Nghĩa vụ tài sản và đại diện: Nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật và quản lý, tôn trọng tài sản riêng của con.
    • Xác định cha, mẹ, con: Đánh giá quy định xác định cha mẹ con theo huyết thống, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
    • Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn: Quy định về giao người trực tiếp nuôi con (ưu tiên con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ; xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên); quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng; quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng và việc lạm dụng quyền thăm nom để cản trở chăm sóc.
  • Nghĩa vụ và quyền của các thành viên khác: Đánh giá trách nhiệm thay thế của ông bà nội, ông bà ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác ruột đối với trẻ em khi cha mẹ không còn hoặc không có khả năng nuôi dưỡng.
  • Xử lý vi phạm và hạn chế quyền của cha mẹ: Đánh giá căn cứ áp dụng Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (bị kết án về tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật/đạo đức) và hậu quả pháp lý tại Điều 86, chỉ ra thực tế Tòa án rất ít khi thụ lý và áp dụng biện pháp này do thiếu cơ chế hướng dẫn cụ thể.

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình về bảo vệ quyền trẻ em

Chương 4 đưa ra các quan điểm định hướng và nhóm giải pháp lập pháp, áp dụng pháp luật:

  • 5 định hướng hoàn thiện: Hướng tới phát triển gia đình bền vững; bảo đảm quyền con người của trẻ em phù hợp bối cảnh Việt Nam; phù hợp xu thế hội nhập và chuẩn mực quốc tế; bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm quyền trẻ em.
  • Giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
    1. Về quyền và nghĩa vụ cha mẹ - con: Bổ sung quy định rõ nghĩa vụ của cha mẹ trong việc tôn trọng quyền được giáo dục không bạo lực; bổ sung biện pháp ngăn ngừa và chế tài xử lý cha mẹ vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng.
    2. Về bảo vệ trẻ em khi ly hôn: Sửa đổi quy định xác định người trực tiếp nuôi con căn cứ toàn diện vào điều kiện phát triển tốt nhất của trẻ; quy định thống nhất thời điểm bắt đầu phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con (kể từ ngày bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày vợ chồng không cùng chung sống).
    3. Về quyền của thành viên khác và thuật ngữ: Bổ sung quyền giữ mối liên hệ của người chưa thành niên với ông bà và các thành viên khác trong gia đình; quy định cơ chế hạn chế quyền của các thành viên khác nếu có hành vi xâm phạm trẻ em; hướng dẫn cụ thể tiêu chí các nghĩa vụ "yêu thương", "trông nom", "chăm sóc".
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện: Tăng cường giáo dục đạo đức, trách nhiệm của cha mẹ; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tòa án nhân dân trong tuyên truyền, giám sát, can thiệp và bảo vệ trẻ em trong môi trường gia đình.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hoàn thiện hệ thống khái niệm về trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình trên cơ sở tiếp cận quyền con người và quy luật sinh học, tâm lý phát triển tự nhiên của con người qua các giai đoạn lứa tuổi.
  • Luận giải sâu sắc bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa trách nhiệm gia đình và nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền trẻ em; khẳng định quyền trẻ em là các đặc quyền tự nhiên gắn liền với nghĩa vụ bắt buộc của cha mẹ và các thành viên gia đình.
  • Phân tích làm rõ các yếu tố kinh tế, xã hội, đạo đức, nếp sống gia đình và phong tục tập quán tác động đến việc thực thi các nhóm quyền cơ bản của trẻ em tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp lập pháp

  • Nhận diện toàn diện các bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giai đoạn 2015–2020, chỉ ra điểm nghẽn trong việc áp dụng chế tài hạn chế quyền cha mẹ, tranh chấp quyền nuôi con, trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, và bảo vệ trẻ em trong quan hệ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
  • Đề xuất sửa đổi, bổ sung cụ thể các điều khoản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: luật hóa nghĩa vụ giáo dục không bạo lực; chuẩn hóa thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; bổ sung quyền duy trì liên hệ của trẻ em với người thân thích; và thiết lập chế tài ngăn chặn hành vi bỏ mặc, sao nhãng chăm sóc trẻ em.
  • Kiến nghị các giải pháp đồng bộ về quản lý nhà nước và phối hợp liên ngành nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng môi trường gia đình an toàn cho trẻ em.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.
  • Luận án chủ động không giải quyết việc bảo vệ quyền trẻ em trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (như kết hôn có yếu tố nước ngoài, nhận nuôi con nuôi quốc tế, xung đột pháp luật về quyền nuôi con và cấp dưỡng xuyên biên giới).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo hộ quyền trẻ em trong các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tương trợ tư pháp quốc tế về thu hồi tiền cấp dưỡng và quyền thăm nom con xuyên quốc gia.
  • Nghiên cứu bảo vệ quyền riêng tư và tài sản của trẻ em trên không gian mạng và môi trường kinh tế số trong mối tương quan với quyền và nghĩa vụ quản lý, giám sát của cha mẹ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng và hoạt động:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Cung cấp nguồn tài liệu hệ thống về lý luận quyền con người, quyền trẻ em, và chế định hôn nhân gia đình; đặc biệt là chương tổng quan tài liệu và hệ thống hóa lý luận ở Chương 1 và Chương 2.
  • Giảng viên các cơ sở đào tạo luật: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Trẻ em, Luật Nhân quyền, Kỹ năng giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình.
  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội): Tham khảo các luận cứ khoa học và giải pháp lập pháp cụ thể phục vụ công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư: Tham khảo các phân tích thực tiễn tại Chương 3 để giải quyết chính xác các vụ án tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng, xác định cha mẹ con và áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha mẹ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt khái niệm "trẻ em" và "người chưa thành niên" trong pháp luật Việt Nam như thế nào?

Theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016, trẻ em là người dưới 16 tuổi. Trong khi đó, theo Bộ luật Dân sự, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Do đó, khái niệm "người chưa thành niên" có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả nhóm trẻ em (dưới 16 tuổi) và nhóm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Việc quy định độ tuổi trẻ em dưới 16 tuổi của Việt Nam dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, nhân chủng học và tâm sinh lý, hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Công ước CRC 1989.

2. Theo luận án, quyền trẻ em có những đặc điểm cơ bản nào?

Luận án xác định quyền trẻ em có 4 đặc điểm:

  1. Xuất phát từ quyền con người, mang tính tự nhiên gắn liền với tiến trình phát triển thể chất và tâm lý của trẻ;
  2. Mang tính phổ biến và tính đặc thù (trẻ em được hưởng các đặc quyền chăm sóc, bảo vệ do chưa trưởng thành);
  3. Mang tính pháp lý, được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống quy phạm pháp luật;
  4. Không chỉ do bản thân trẻ em thực hiện mà phụ thuộc chủ yếu vào sự bảo đảm và nghĩa vụ của các chủ thể khác, trước hết là cha mẹ và gia đình.

3. Những căn cứ nào để Tòa án quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014?

Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con;
  • Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
  • Phá tán tài sản của con;
  • Có lối sống đồi trụy;
  • Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

4. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp cụ thể nào nhằm bảo vệ trẻ em khi cha mẹ ly hôn?

Luận án đề xuất:

  • Quy định việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng phải dựa trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất về mọi mặt của trẻ, đánh giá toàn diện điều kiện vật chất và tinh thần thay vì chỉ căn cứ cứng nhắc vào thu nhập;
  • Thống nhất rõ ràng thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong Luật Hôn nhân và gia đình để tránh sự không đồng nhất trong áp dụng thực tiễn;
  • Bổ sung quy định tôn trọng quyền duy trì mối liên hệ giữa trẻ em với các thành viên khác trong gia đình (như ông bà, anh chị em) sau khi cha mẹ ly hôn.

Kết luận

Luận án "Bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hạnh là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, tiếp cận toàn diện vấn đề bảo vệ quyền trẻ em dưới góc độ luật hôn nhân và gia đình. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về trẻ em và quyền trẻ em gắn với các quy luật phát triển tự nhiên, đánh giá khách quan thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam giai đoạn 2015–2020. Hệ thống các giải pháp lập pháp và cơ chế thi hành được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em trong môi trường gia đình.