Chương 1: Khái niệm chung về quyền nhân thân của cá nhân Chương 2: Thực trạng pháp luật về Quyền xác định lại giới tính của cá nhân Chương 3:Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định lại giới tính của cá nhân và một số kiến nghị 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN 1. Khái niệm chung về quyền nhân thân của cá nhân Quyền xác định lại giới tính là một quyền nhân thân, nằm trong những quyền dân sự của cá nhân và cũng là một phần của quyền con người - quyền tối cao của mỗi cá nhân trong xã hội. Vì vậy, trước khi tìm hiểu kỹ hơn về quyền xác định lại giới tính của cá nhân, chúng ta cùng tìm hiểu về quyền con người, quyền dân sự và quyền nhân thân nói chung để thấy rằng quyền xác định giới tính có nguồn gốc, đặc điểm và ý nghĩa như nào. Nó giống và khác gì so với các quyền khác của cá nhân con người.
Ngày nay, chúng ta thấy có khá nhiều các tài liệu viết về quyền con người của các nước khác nhau, của các tổ chức khác nhau. Mỗi tôn giáo khác nhau có những tuyên ngôn riêng về nhân quyền của mình. Cũng có không ít các tổ chức phản động trên thế giới núp bóng “con bài” nhân quyền để tiến hành các cuộc chiến tranh phi nghĩa, hàng loạt các cuộc khủng bố, tấn công, đụng độ xảy ra liên tiếp trong thời gian qua với danh nghĩa nhân quyền. Vậy, nhân quyền là gì? Nhân quyền hay quyền con ngƣời là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào.
Mọi con người được sinh ra đều bình đẳng và được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ, như quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc. Nhân quyền được xem là một trong mười sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp, phân tâm học, thuyết tương đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World wide web, xà phòng, số không, và lực hấp dẫn. Theo nội dung về nhân quyền trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: Quan điểm của các nhà triết học thời đại khai sáng của thế kỷ 17 và 18 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho rằng các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ. Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” các quyền này.
Các quyền không thể tước bỏ bao gồm các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ. Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì. Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó.
Ví dụ như điều sửa đổi bổ sung đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ không đưa ra quyền tự do tín ngưỡng hay tự to báo chí cho dân chúng. Điều sửa đổi bổ sung đó nghiêm cấm Quốc hội thông qua các luật vi phạm tới tự do ngôn lụân, tự do tín ngưỡng và quyền hội họp ôn hòa. Nhà sử học Leonard Levy đã phát biểu: “Các cá nhân có thể tự do khi chính phủ của họ không tự do”. Các nội dung chi tiết và các thủ tục của luật pháp liên quan tới quyền con người cần phải thay đổi tùy theo xã hội, nhưng tất cả các nền dân chủ đều được giao trọng trách trong việc xây dựng các cấu trúc xã hội lập hiến, lập pháp để bảo đảm cho các quyền con người đó.
Các nước lớn trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp cũng đã có những tuyên ngôn riêng của mình về vấn đề nhân quyền và được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo trong Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ngày 02/9/1945. Bản tuyên ngôn viết: “Hỡi đồng bào cả nước, tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ.
Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”[2]. Tại bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc thông qua và công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 cũng đưa ra một quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm,.Theo bản Tuyên ngôn này, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.
Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, dù có xuất phát điểm từ đâu, có mục đích hay động cơ khác nhau, thì mỗi tuyên ngôn về nhân quyền đều có chung một nội dung chính: là hướng tới sự tự do, bình đẳng, bác ái của mỗi cá nhân trong xã hội, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hành phúc là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi con người trong xã hội. Các quyền này luôn luôn được tôn trọng và bảo vệ. Hẹp hơn quyền con người là quyền công dân, nếu như quyền con người là quyền tự nhiên, khi một người được sinh họ đã có quyền đó và được áp dụng cho tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, xuất thân, giới tính, chế độ chính trị,…thì quyền công dân lại bị bó hẹp trong một khôn khổ đó là Nhà nước và pháp luật.
Trong một xã hội nhất định, tồn tại một kiểu nhà nước, một chế độ chính trị, một nền pháp luật nhất định mỗi cá nhân sống trong nhà nước đó được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ của mình đó được gọi là quyền công dân. Nó được cụ thể hoá từ quyền con người như quyền được sống thì sống ở đâu, sống như thế nào…quyền tự do thân thể, tự do ngôn luận đến đâu, theo hình thức nào…đó là các biểu biện cụ thể của quyền công dân. Nó hẹp hơn quyền con người bởi nó bị giới hạn bởi quốc gia, lãnh thổ, chế độ chính trị, nền luật pháp của mỗi nơi con người sinh sống, mang quốc tịch. Quyền công dân của mỗi nước khác nhau là khác nhau.
Ví dụ như ở các nước như Anh, Pháp, Mỹ….thì 16 tuổi được công nhận là tuổi trưởng thành hay còn gọi là thành niên và họ có đầy đủ các quyền công dân như quyền ứng cử, bầu cử, quyền được uống rượu, kết hôn, lấy bằng lái xe….còn ở Việt Nam thì 18 tuổi họ mới có đầy đủ các quyền trên. Cũng như Quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam được ghi nhận đầy đủ và thống nhất trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Lao động, Luật Đất đai.Trong đó, Bộ luật Dân sự được coi là một bộ luật gốc, thể hiện 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương đối đầy đủ về các quyền dân sự của cá nhân, điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh hàng ngày trong xã hội giữa cá nhân với nhau, quyền dân sự của cá nhân luôn luôn được tôn trọng và bảo vệ như các quyền công dân và quyền con người. Tại Điều 9 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định về Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự như sau: 1. Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: a) Công nhận quyền dân sự của mình; b) Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; c) Buộc xin lỗi, cải chính công khai; d) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; đ) Buộc bồi thường thiệt hại.[5] Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, một loạt các quyền từ thấp đến cao, từ hạn hẹp đến rộng lớn như quyền dân sự, quyền công dân, quyền con người, đều có chung một đặc điểm là gắn với con người, hướng tới giá trị tốt đẹp của mỗi con người trong xã hội, đảm bảo cho họ được sống và hưởng đầy đủ những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự của cá nhân, gắn liền với cá nhân mỗi con người trong xã hội, nó cụ thể hoá được tất cả các quyền dân sự, quyền công dân và quyền con người…và hơn hết nó còn thể hiện các đặc tính pháp luật của mỗi quốc gia như: tính nhân văn, nhân đạo, sự văn minh, tiến bộ. Ở Việt Nam quyền nhân thân ngày một được quan tâm, tôn trọng và bảo vệ, qua các thời kỳ đổi mới, các quy định này ngày một hoàn thiện và tiến bộ hơn.