CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Khái lược về quản lý nhà Nước 1. Khái niệm về quản lý nhà nước Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình điều hành các hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Trong hoạt động quản lý nhà nước, vấn đề kết hợp các yếu tố của hoạt động quản lý là rất phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực cao với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ hiện đại. Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ". Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ. Cũng như hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý Nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân là một quá trình tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức của Ngân hàng Nhà nước tới các hoạt động tiền tệ và ngân hàng của các QTDND để đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Trong mối quan hệ này, chủ thể quản lý là Ngân hàng Nhà nước, với vai trò là Ngân hàng trung ương và cơ quan thuộc Chính phủ, có thể tác động tới đối tượng bị quản lý thông qua những kế hoạch, chương trình, chính sách, biện pháp và những quyết định hành chính khác [42] 1.
Đặc điểm của quản lý nhà nước Quản lý hành chính nhà nước cũng là một dạng quản lý nhà nước, vì vậy Quản lý Nhà nước có những đặc điểm sau: Thứ nhất: Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức chặt chẽ và tính mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước - Hoạt động Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, tính quyền lực là đặc điểm để phân biệt quản lý nhà nước với các dạng quản lý xã hội khác. - Quyền lực đặc biệt là quyền lực Nhà nước, do chủ thể quản lý nhà nước sử dụng chủ yếu để tác động ra bên ngoài cơ quan nhà nước, mang tính bắt buộc phải thi hành. Trong trường hợp cần thiết, chủ thể quản lý nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính tổ chức chặt chẽ được thể hiện ở một số mặt sau: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước được tổ chức một cách thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, thể hiện tính thứ bậc hành chính chặt chẽ trong tổ chức và hoạt động của nội bộ cơ quan trong toàn bộ hệ thống.
Các cơ quan quản lý nhà nước hoạt động trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. Nếu hoạt động không đúng phạm vi quy định là một trong những hành vi làm ảnh hưởng tiêu cực đến tổ chức Trong quá trình hoạt động các cơ quan Nhà nước phải đảm bảo thực hiện đúng các mối quan hệ: trên, dưới, ngang, dọc theo quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước hoạt động theo quy chế, dựa vào quy chế mẫu của Chính phủ. - Tính mệnh lệnh đơn phương được thể hiện: Tính mệnh lệnh đơn phương xuất phát từ đặc trưng quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý nhà nước: “quyền năng – phục tùng”.
Đặc trưng này thể hiện sự không bình đẳng giữa chủ thể và khách thể QLHCNN. Sự không bình đẳng được thể hiện: Chủ thể quản lý nhà nước đơn phương ban hành các mệnh lệnh cá biệt đặt ra các quy định bắt buộc đối với bên kia, buộc bên kia phải phục tùng, đồng thời kiểm tra việc thực hiện các mệnh lệnh, quy định ấy. Căn cứ vào quy định của pháp luật để đáp ứng hoặc bác bỏ yêu cầu, kiến nghị khách thể quản lý. Trong trường hợp này quyền quyết định vẫn thuộc về ý chí của người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Vì vậy, nếu có sự trùng hợp về ý chí của hai bên thì đó cũng không phải là sự thỏa thuận ý chí. Chủ thể quản lý nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước khi ban hành các quyết định quản lý nhà nước có liên quan trực tiếp đến lợi ích hợp pháp của khách thể quản lý nhà nước, chủ thể ban hành phải tham khảo ý kiến của khách thể. Tham khảo ý kiến không phải là sự thỏa thuận ý chí.
Thứ hai: Quản lý nhà nước có mục tiêu chiến lược, có chương trình , kế hoạch để thực hiện mục tiêu Mục tiêu là cái đích mà chủ thể cần phải đạt được ở một thời điểm nhất định, mục tiêu là chức năng cơ bản đầu tiên, là căn cứ để chủ thể đưa ra các hình thức và phương pháp quản lý thích hợp. Mục tiêu của quản lý nhà nước là mục tiêu tổng hợp bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao. Tùy thuộc vào phạm vi quản lý nhà nước của các chủ thể mà xác định mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu chung của nhà nước. Mục tiêu được xác định phải mang tính khách quan, khoa học, khả thi.
Để thực hiện mục tiêu cần phải vạch rõ lộ trình, chương trình, kế hoạch cụ thể, sát với thực trạng kinh tế - xa hội, hợp với đối tượng quản lý. Thứ ba: Quản lý nhà nước có tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong điều hành, phối hợp hoạt động, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ chức và phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, của cuộc sống con người trong phạm vi quản lý được phân cấp, phân công theo đúng thẩm quyền, theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ động trong quản lý nhà nước là việc chủ thể luôn luôn ở trong trạng thái làm chủ được hoạt động của mình, không để các tình thế khác chi phối. Sáng tạo là việc chủ thể có những ý tưởng, tư duy mới, phương pháp làm việc mới với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn, tốt hơn so với tư duy, phương pháp cũ.
Linh hoạt là việc của chủ thể quản lý nhà nước ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính, xử lý tình huống hành chính nhanh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhạy, phù hợp thực tế, nhưng không trái với quy định của pháp luật. Thứ tư: Quản lý nhà nước có tính liên tục và tương đối ổn định trong tổ chức và hoạt động. Tính liên tục trong quản lý nhà nước xuất phát từ hoạt động liên tục của khách thể quản lý hành chính nhà nước, xuất phát từ quy trình quản lý nhà nước nói chung và quy trình ban hành, tổ chức thực hiện kiểm tra việc thực hiện quyết định QLHCNN nói riêng. Tính liên tục cần phải bảo đảm tính kế thừa về nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý, đạo lý trong quản lý nhà nước.
Tính tương đối trong quản lý nhà nước trước hết phải ổn định về tổ chức bộ máy và nhân sư, về chủ trương, chính sách,… không nên thay đổi liên tục, làm xáo trộn, rối loạn trong quản lý. Vì vậy, chủ thể quản lý nhà nước phải bình tĩnh, sang suốt, thận trọng khi đưa ra các quyết định có liên quan dến tính ổn định về tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước. Thứ năm: Quản lý nhà nước có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp. Tính chuyên môn hóa trong quản lý nhà nước xuất phát từ phân công lao động quản lý nhà nước.
Mỗi bộ phận trong cơ quan, mỗi cán bộ công chức trong từng bộ phận được phân công đảm nhiệm những nhiệm vụ cụ thể phù hợp với chuyên môn mà cán bộ công chức ấy đào tạo. Quản lý nhà nước là một nghề mang tính tổng hợp, phức tạp, sáng tạo. Vì vậy, cán bộ công chức làm công tác quản lý hành chính nhà nước chẳng những có kiến thức chuyên môn sâu mà còn phải có kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực [37] 1. Khái lược về Quỹ tín dụng nhân dân 1.
Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân Ngày 13 tháng 8 năm 2001, Chính phủ đã ra Nghị định số 48 về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, theo đó ta có thể hiểu: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com " Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống”[5, Điều2] Trong giai đoạn Quỹ còn được thí điểm thành lập, có 3 cấp đó là Quỹ tín dụng cơ sở, Quỹ tín dụng khu vực và Quỹ tín dụng Trung ương.