Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH CHƢ́NG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SƢ̣ 1. Khái niệm quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự Xuất phát từ những quy định của Hiến pháp và pháp luật liên quan đến kết tội, buộc tội một người phải có căn cứ. Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định: Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Thừa kế quy định của Hiến pháp 1992, Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, một người bị buộc tội thì tội của họ phải được chứng minh theo trình tự luật định. Căn cứ Điều 2 Bộ luật hình sự quy định cơ sở trách nhiệm hình sự: Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự, Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định. Như vậy, để truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như để đưa ra xét xử đối với một người thì cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.
Điều này làm xuất hiện quá trình chứng minh về tội phạm và người phạm tội bằng những chứng cứ đã thu thập được trên cơ sở đã được kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Cho nên, quá trình chứng minh thực chất là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo đối tượng chứng minh bằng việc so sánh, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối chiếu những chứng cứ đã thu thập được với những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự. Trên cơ sở đó, các cơ quan tiến hành tố tụng mới sử dụng chứng cứ để khởi tố, để tiếp tục các bước điều tra, để truy tố và để xét xử vụ án hình sự. Quá trình chứng minh VAHS bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau như: hoạt động điều tra, hoạt động truy tố và hoạt động xét xử.
Mỗi hoạt động đó đều hàm chứa các hành vi tố tụng khác nhau. Cụ thể: hoạt động điều tra với tính chất là một giai đoạn tố tụng do Cơ quan điều tra tiến hành và bao gồm các hành vi tố tụng đặc trưng như: khởi tố VAHS, khởi tố bị can, bắt tạm giam bị can, khám xét, hỏi cung bị can, ghi lời khai người làm chứng, người bị hại, tiến hành đối chất, nhận dạng v. nhằm làm rõ đối tượng chứng minh trong giai đoạn điều tra. Hoạt động truy tố do Viện kiểm sát tiến hành thể hiện quyền giám sát hoạt động của Cơ quan điều tra và thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đặc trưng bởi các hành vi tố tụng như: nghiên cứu hồ sơ, nghiên cứu bản kết luận điều tra, kiểm sát việc giam giữ bị can, bị cáo, viết bản cáo trạng và truy tố bị can trước Tòa án.
Hoạt động xét xử do Tòa án tiến hành là hoạt động mang tính quyết định cuối cùng nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và áp dụng các hình phạt tương ứng theo qui định của pháp luật. Hoạt động xét xử bao gồm các hành vi tố tụng cụ thể như: xét hỏi bị cáo, hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác, xem xét vật chứng, tranh luận tại phiên tòa, nghị án, tuyên án… Tất cả các hành vi tố tụng cụ thể đó nhằm đến một mục đích cuối cùng và cao nhất đó là chứng minh sự thật khách quan của VAHS. Do VAHS xảy ra trước các hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng nên khi xuất hiện sự việc phạm tội có những dấu hiệu của tội phạm thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mới bắt đầu, hay 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nói cách khác, quá trình chứng minh tội phạm và người phạm tội được bắt đầu từ khi phát hiện có sự việc phạm tội xảy ra. Trên cơ sở những qui định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản pháp luật khác về điều tra, truy tố, xét xử, quá trình chứng minh trong vụ án hình sự là quá trình mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động nhận thức sự thật về VAHS.
Việc nhận thức về VAHS là việc phản ánh một cách khách quan toàn bộ diễn biến của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, hay nói cách khác là tái dựng lại được một bức tranh toàn cảnh, chính xác về VAHS đã xảy ra. Để đạt được điều này, các chủ thể tiến hành tố tụng phải thực hiện các biện pháp do pháp luật TTHS quy định, làm sáng tỏ tất cả mọi vấn đề có trong VAHS. Việc nghiên cứu các sự kiện, tình tiết của vụ án được tiến hành dựa trên cơ sở "chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do bộ luật này quy định, mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án" [15, tr. Chỉ có dựa vào chứng cứ thì mới làm sáng tỏ được tội phạm, chỉ rõ được người thực hiện hành vi phạm tội; chỉ có dựa vào chứng cứ thì người tiến hành tố tụng mới có căn cứ để đưa ra kết luận của mình về tội phạm, về tính có lỗi của bị can, bị cáo, tính phải chịu hình phạt của bị cáo và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án hình sự.
Khi tội phạm hình sự xảy ra với tính chất "là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt" [4, tr.25] thì việc áp dụng các biện pháp để tìm ra người thực hiện tội phạm và buộc họ phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước là điều cần thiết. Ở đây, Nhà nước đã giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ thực hiện. Yêu cầu không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội đều được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án hết sức quan tâm chú ý. Trong khi đó tội phạm là 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một hiện tượng xã hội phức tạp, hành vi phạm tội là một hành vi xảy ra trong quá khứ.
Tội phạm xuất phát từ rất nhiều động cơ khác nhau, có mục đích khác nhau, thủ đoạn khác nhau và ngày càng tinh vi, luôn tìm cách che giấu hành vi phạm tội của mình để nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Các chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm là những người không chứng kiến toàn bộ diễn biến ngay từ đầu mọi hành vi phạm tội, lượng thông tin ban đầu mà những chủ thể này có được khi được giao giải quyết vụ án tương đối hạn chế. Muốn dựng lại bức tranh đầy đủ, chính xác về tội phạm đã xảy ra để giải quyết VAHS thì các chủ thể tiến hành tố tụng phải tiến hành chứng minh nhằm thu thập các thông tin, các sự kiện tồn tại trong thế giới khách quan nhằm phản ánh chân lý khách quan của vụ án. Chứng minh là nhận thức về VAHS được các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, tức là xác định sự phù hợp đầy đủ, chính xác của sự kiện phạm tội và các tình tiết khác của vụ án để làm rõ mức độ trách nhiệm của người đã thực hiện hành vi phạm tội, hoặc khẳng định ngược lại là tội phạm không được thực hiện trong thực tế, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có lỗi.
Việc nhận thức chân lý khách quan của VAHS là một quá trình hết sức phức tạp được tạo bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện phù hợp với các qui định của BLTTHS Việt Nam; quá trình này được thừa nhận là một quá trình nhận thức. Vì vậy quá trình chứng minh tội phạm cũng phải tuân thủ những qui luật chung của quá trình nhận thức hiện thực khách quan mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan" [6, tr. Như vậy, xuất phát từ sự thừa nhận khả năng nhận thức của con người, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phép biện chứng duy vật đòi hỏi việc nhận thức, việc nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan nói chung và các tình tiết của vụ án hình sự nói riêng phải đảm bảo một cách toàn diện. Quá trình chứng minh VAHS phải tuân theo những quy tắc logic nhất định như việc nhận thức mọi hiện tượng của hiện thực.
Trước tiên cần thu thập tài liệu thực tế nhất định, tiếp đến tài liệu đó cần được phân tích, được phân ra từng phần, làm sáng tỏ từng chi tiết cụ thể, từng mặt của các sự kiện cần được nghiên cứu xem xét; sau đó đưa ra được những kết luận khái quát tổng hợp về các sự kiện đã được nghiên cứu. Trên cơ sở các sự kiện đã được xem xét xây dựng nên những giả thiết chứng minh, rồi sau đó được kiểm tra, đánh giá thận trọng, tỉ mỉ, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, từ những thông tin, sự kiện riêng lẻ đến những sự kiện chung nhất và cả bằng tư duy suy diễn, từ đó đi đến những kết luận cụ thể đối với các sự kiện, tình tiết cụ thể.