Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1 - Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội và chế độ hƣu trí Chƣơng 2- Thực trạng về hình thành và sử dụng quỹ hƣu trí ở Việt Nam Chƣơng 3- Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ hƣu trí ở viêt nam CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CHẾ ĐỘ HƢU TRÍ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI: 1. Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội: Trong cuộc đời của mỗi con ngƣời, trong quá trình tồn tại và trƣởng thành không phải lúc nào ngƣời ta cũng gặp thuận lợi, cũng làm việc tạo ra đƣợc sản phẩm để có thu nhập, thoả mãn các nhu cầu của mình, trái lại họ phải chịu sự chi phối của môi trƣờng tự nhiên, của những rủi ro xảy ra mà họ không lƣờng trƣớc đƣợc nhƣ ốm đau, tai nạn, già yếu.Tất nhiên khi gặp phải những hoàn cảnh này con ngƣời không làm việc đƣợc, do đó bị giảm hoặc mất thu nhập, dẫn đến những khó khăn trong cuộc sống. Để khắc phục những rủi ro, để giảm bớt khó khăn thì ngoài việc tự mình khắc phục, con ngƣời cần thiết phải đƣợc sự bảo trợ của cộng đồng, của xã hội.
Sự bảo trợ này đƣợc thể hiện dƣới hình thức bằng tiền hoặc bằng hiện vật để đảm bảo những nguồn vật chất cần thiết nhằm phục hồi nhanh chóng khả năng lao động, cũng nhƣ sự ổn định về thu nhập cần thiết để sinh sống. Từ xa xƣa con ngƣời đã có sự san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trên tinh thần “nhƣờng cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách” dần dần trở thành một truyền thống tốt đẹp của cả xã hội, ý thức cộng đồng. Cùng với sự phát triển của xã hội, ý thức cộng đồng ngày càng đƣợc mở rộng, làm tiền đề cho sự ra đời của bảo hiểm xã hội ngày nay. Nhìn lại lịch sử thì từ đầu Công nguyên, ở Rôm (Italy) đã tự tổ chức các quỹ để trợ cấp cho ngƣời ốm đau.
Vào thế kỷ 14 các nhà thiên chúa giáo ở Châu Âu cũng lập ra các quỹ để tƣơng trợ ốm đau, tàn tật. Đến thế kỷ thứ XV những ngƣời nông dân trồng nho ở vùng thung lũng Anpơ đã thành lập những hội tƣơng tế với cách thức môĩ ngƣời đều trích một phần thu nhập đóng vào một quỹ chung phòng khi ai bị ốm đau, tai nạn thì dùng quỹ đó để trợ giúp, đáp ứng đƣợc sự bù đắp tức thời cho những ngƣời gặp rủi ro bất hanh. Hình thức này dần dần đƣợc đa số các nƣớc ở Châu Âu thực hiện. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những hình thức tƣơng trợ của cộng đồng đối với những ngƣời gặp khó khăn đã góp phần cho họ vƣợt qua cam go, nhƣng tính chất của những hình thức này chỉ là sự bù đắp tức thời, không ổn định.
Việc tƣơng trợ trong phạm vi hẹp của những đơn vị nhỏ hoặc khu vực nhỏ không có thể khắc phục hết những rủi ro của ngƣời lao động. Cuộc sống của ngƣời lao động lại gặp phải bấp bênh ảnh hƣởng đến lao động sản xuất, và trật tự an toàn xã hội. Sự ảnh hƣởng này đã tác động đến giới chủ và Nhà nƣớc, buộc họ phải từng bƣớc can thiệp vào để duy trì lực lƣợng lao động, những ngƣời tạo ra của cải vật chất. Năm 1850, ở Đức nhiều bang đã có sáng kiến thành lập quỹ ốm đau và bắt buộc công nhân phải đóng góp để dự phòng.
Tính bắt buộc đóng góp mới chỉ xuất hiện ở một bên ngƣời đƣợc bảo hiểm. Đến những năm 1880 các hình thức tƣơng trợ xã hội đƣợc mở rộng cho các trƣờng hợp tai nạn, tuổi già và có thêm sự tham gia đóng góp vào quỹ xã hội của giới chủ và Nhà nƣớc. Cũng từ thời kỳ này, pháp luật bảo hiểm xã hội và hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội đƣợc ra đời ở Đức dƣới thời Thủ tƣớng Bismarck .Đạo luật về chế độ bảo hiểm ốm đau của công nhân đƣợc ban hành năm 1883, theo đạo luật này việc thực hiện bảo hiểm xã hội là bắt buộc đối với những ngƣời làm công ăn lƣơng. Đạo luật quan trọng tiếp theo là luật bảo hiểm tai nạn ban hành năm 1884.
Đạo luật này cũng quy định chế độ bảo hiểm bắt buộc do giới chủ doanh nghiệp đóng góp, những công nhân bị tai nạn trong xí nghiệp hoặc những ngƣời thân còn sống của họ đƣợc nhận trợ cấp từ các quỹ bảo hiểm tai nạn chuyên ngành, Đạo luật về bảo hiểm hƣu trí và mất sức đƣợc ban hành năm 1889, bảo đảm cho ngƣời từ 70 tuổi trở lên một khoản trợ cấp hƣu trí hoặc một khoản trợ cấp mất sức lao động. Đến đây mở ra một thời kỳ mới của bảo hiểm: Bắt buộc tham gia đối với ngƣời lao động, đóng phí bảo hiểm do 3 bên, quản lý hệ thống có đại diện của cả 3 bên (Nhà nƣớc, giới chủ và giới thợ). Hệ thống bảo hiểm xã hội của Đức đƣợc nhân rộng ra khắp Châu Âu và một số nơi khác. Vào những năm 1930 bảo hiểm xã hội đƣợc thực hiện ở Mỹ La tinh, Hoa kỳ và Canađa.
Sau 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiến tranh thế giới lần thứ II, bảo hiểm ở xã hội lan rộng tới nhiều nƣớc ở Châu Phi, Châu Á và các nƣớc vùng biển Caribê thực hiện. Tuy nhiên việc áp dụng có những khác biệt tuỳ theo đặc điểm kinh tế xã hội từng thời kỳ của mỗi nƣớc. Đến nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đã có pháp luật bảo hiểm xã hội. Mục đích của pháp luật bảo bảo hiểm xã hội ở các nƣớc đều giống nhau ở chỗ đều là sự bảo vệ cho ngƣời lao động khi gặp phải rủi ro do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập.
Tuy nhiên giữa các đạo luật bảo hiểm xã hội của các nƣớc cũng có nội dung khác nhau về các dạng lao động đƣợc áp dung, về số lƣợng các chế độ trợ cấp, về phƣơng thức tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội. Tổ chức lao động quốc tế là tổ chức liên Chính phủ đƣợc thành lập năm 1919, với mục đích đƣa ra những khuyến nghị nhằm giúp đỡ về kỹ thuật đối với các thành viên trong tất cả các lĩnh vực lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của ngƣời lao động. Từ khi thành lập đến nay Tổ chức lao động quốc tế đã coi việc xúc tiến bảo hiểm xã hội là một trong những hoạt động chính của mình. Công ƣớc 102 của Tổ chức lao động quốc tế đã quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của các chế độ bảo hiểm xã hội và khuyến nghị các nƣớc thành viên thực hiện tiêu chuẩn này.
Ngoài ra Công ƣớc còn quy định những vấn đề cơ bản làm nòng cốt cho bảo hiểm xã hội, đó cũng là cơ sở để các nƣớc luật hoá theo điều kiện của mỗi quốc gia. Ở nƣớc ta, với truyền thống đùm bọc lẫn nhau trong gia đình và cộng đồng làng xã, mầm mống của bảo hiểm xã hội đã có từ lâu đời “trẻ cậy cha, già cậy con”, “lá lành đùm lá rách”, ngƣời dân Việt Nam đã đồng cam cộng khổ với nhau, giúp đỡ nhau những khi ốm đau , tai nạn.cũng nhƣ san sẻ cho nhau bát cơm, manh áo lúc mất mùa đói kém. Ngay từ những ngày mới giành đƣợc chính quyền Đảng và Nhà nƣớc ta đã quan tâm đến bảo hiểm xã hội đối với ngƣời lao động. Trong sắc lệnh số 76 ngày 20/5/1950 quy định về chế độ công chức, sắc lệnh số 77 ngày 22/5/1950 quy định về chế độ công đân.
Trong đó ngoài các chế độ tuyển dụng , thôi việc, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền lƣơng, thì giờ làm việc.cũng đã quy định những nội dung có tính nguyên tắc về bảo hiểm xã hội nhƣ chế độ ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, hƣu trí và trợ cấp khi chết. Nhƣng do hoàn cảnh kháng chiến, nên việc áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội chƣa đƣợc thực hiện toàn diện. Pháp luật bảo hiểm xã hội chỉ thực sự đƣợc thực hiện một cách tƣơng đối hoàn chỉnh bắt đầu từ những năm 60, đƣợc đánh dấu bằng sự ra đời của Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nƣớc, đƣợc ban hành kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 của Chính phủ. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội trong suốt hơn 30 năm qua cũng nhƣ các chính sách xã hội khác, đƣợc thực hiện trong cơ chế tập trung bao cấp.
Thời kỳ này bảo hiểm xã hội thể hiện sự đãi ngộ của Nhà nƣớc đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nƣớc. Cán bộ công nhân viên chức (gọi chung là ngƣời lao động) trong các cơ quan đơn vị của Nhà nƣớc không phải đóng góp bảo hiểm xã hội , nhƣng khi gặp phải những trƣờng hợp rủi ro hoặc già yếu thì đƣợc Nhà nƣớc trợ cấp. Với quan niệm nhƣ vậy, vấn đề tài chính bảo hiểm xã hội dần dần trở thành một gánh nặng cho ngân sách Nhà nƣớc, đồng thời sự bình đẳng giữa những ngƣời lao động trong xã hội cũng không đƣợc đảm bảo vì lực lƣợng lao động ngoài quốc doanh không đƣợc quyền hƣởng trợ cấp. Vì thế, Hiến pháp nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định tại điều 56 “Nhà nƣớc quy định chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nƣớc và những ngƣời làm công ăn lƣơng.
Nhà nƣớc khuyến khích các hình thức bảo hiểm xã hội khác với ngƣời lao động”. Đảng ta cũng ra Nghị quyết về từng bƣớc thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi ngƣời lao động (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII) Nhƣ vây, đến nay với việc xây dựng nền kinh tế mới nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, bảo hiểm xã hội không chỉ áp dụng hạn hẹp đối với công nhân viên chức Nhà nƣớc mà còn đƣợc áp dụng đối với ngƣời lao động trong các thành phần kinh tế khác. Bộ luật Lao 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.