Luận Văn Thạc Sĩ Về Kết Hôn Giữa Công Dân Việt Nam Và Người Nước Ngoài Theo Pháp Luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn giữa công dân việt nam với người nước ngoài, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

134
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

1.1. Khái niệm kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

1.2. Kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.3. Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

1.4. Người nước ngoài

1.5. Đặc điểm của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

1.5.1. Đặc điểm chung

1.5.2. Những đặc điểm đặc thù của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam

1.6. Nguyên tắc giải quyết quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

1.7. Ý nghĩa của việc pháp luật ghi nhận quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

2. CHƯƠNG 2: KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1. Các điều kiện để việc kết hôn hợp pháp

2.1.1. Điều kiện về tuổi kết hôn

2.1.2. Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam và nữ khi kết hôn

2.1.3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn

2.1.4. Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác

2.1.5. Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn

2.1.6. Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

2.1.7. Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

2.1.8. Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính

2.1.9. Điều kiện về nghi thức kết hôn

2.2. Thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

2.2.1. Việc đăng ký kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam

2.2.2. Việc đăng ký kết hôn được tiến hành tại khu vực biên giới

2.2.3. Việc đăng ký kết hôn được tiến hành tại Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài

2.3. Trình tự, thủ tục đăng ký kết giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

2.3.1. Về thủ tục nộp và nhận hồ sơ kết hôn

2.3.2. Về trình tự giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

2.3.3. Về tổ chức lễ đăng ký kết hôn

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY

3.1. Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài những năm gần đây

3.1.1. Một số nét về tình hình kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trong những năm gần đây

3.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh và hoạt động của các cơ quan liên quan đảm bảo thực thi việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

3.2.1. Thực trạng về pháp luật điều chỉnh

3.2.2. Thực trạng hoạt động của các cơ quan liên quan bảo đảm thực thi việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

3.3. Một số vướng mắc liên quan đến việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

3.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

3.4.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

3.4.2. Đảm bảo hoạt động có hiệu quả của các cơ quan có liên quan trong việc thi hành pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kết Hôn Giữa Công Dân Việt Nam Và Người Nước Ngoài

Kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài là một vấn đề ngày càng trở nên phổ biến trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Sự gia tăng này không chỉ phản ánh sự phát triển của các mối quan hệ xã hội mà còn đặt ra nhiều thách thức về pháp lý và văn hóa. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan đến hôn nhân quốc tế là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam.

1.1. Khái Niệm Kết Hôn Có Yếu Tố Nước Ngoài

Kết hôn có yếu tố nước ngoài được hiểu là mối quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài. Điều này bao gồm cả việc kết hôn tại Việt Nam và ở nước ngoài, với các quy định pháp luật khác nhau áp dụng cho từng trường hợp.

1.2. Đặc Điểm Của Quan Hệ Kết Hôn Quốc Tế

Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán và pháp luật. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến quá trình kết hôn và các quyền lợi của các bên liên quan.

II. Vấn Đề Pháp Lý Trong Kết Hôn Giữa Công Dân Việt Nam Và Người Nước Ngoài

Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài không chỉ đơn thuần là một hành động cá nhân mà còn liên quan đến nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Các quy định pháp luật hiện hành cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính hợp pháp và bảo vệ quyền lợi của các bên.

2.1. Các Điều Kiện Để Kết Hôn Hợp Pháp

Để việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài được công nhận hợp pháp, cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định như độ tuổi, sự tự nguyện và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật.

2.2. Quyền Lợi Của Công Dân Việt Nam Khi Kết Hôn Với Người Nước Ngoài

Công dân Việt Nam có quyền lợi nhất định khi kết hôn với người nước ngoài, bao gồm quyền được bảo vệ pháp lý, quyền thừa kế và quyền nuôi con. Tuy nhiên, việc thực thi các quyền này còn gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt trong pháp luật giữa các quốc gia.

III. Thách Thức Trong Việc Kết Hôn Giữa Công Dân Việt Nam Và Người Nước Ngoài

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cũng đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến xã hội và văn hóa.

3.1. Các Vấn Đề Pháp Lý Phát Sinh

Việc áp dụng các quy định pháp luật trong trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài thường gặp khó khăn do sự khác biệt trong hệ thống pháp luật. Điều này có thể dẫn đến các tranh chấp pháp lý phức tạp.

3.2. Tác Động Đến Văn Hóa Và Xã Hội

Kết hôn với người nước ngoài có thể tạo ra những thay đổi trong văn hóa và xã hội. Những thay đổi này có thể tích cực nhưng cũng có thể gây ra những xung đột về giá trị và phong tục tập quán.

IV. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Kết Hôn Quốc Tế

Để giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Những giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

4.1. Cải Cách Pháp Luật Về Hôn Nhân Quốc Tế

Cần thiết phải cải cách các quy định pháp luật hiện hành để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của xã hội. Việc này bao gồm việc cập nhật các quy định về điều kiện kết hôn và quyền lợi của các bên.

4.2. Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước

Cần tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân quốc tế, bao gồm việc đào tạo cán bộ, nâng cao nhận thức và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc thực hiện quyền kết hôn.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Việc nghiên cứu và áp dụng các quy định pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để cải thiện hơn nữa.

5.1. Thực Trạng Kết Hôn Giữa Công Dân Việt Nam Và Người Nước Ngoài

Thực trạng cho thấy số lượng công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ngày càng tăng. Điều này phản ánh sự thay đổi trong nhận thức và nhu cầu của xã hội.

5.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Kết Hôn Quốc Tế

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài không chỉ mang lại lợi ích cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Kết Hôn Giữa Công Dân Việt Nam Và Người Nước Ngoài

Kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài là một vấn đề phức tạp nhưng cũng đầy tiềm năng. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao nhận thức xã hội sẽ giúp thúc đẩy mối quan hệ này phát triển bền vững.

6.1. Tương Lai Của Quan Hệ Kết Hôn Quốc Tế

Dự báo rằng trong tương lai, số lượng kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài sẽ tiếp tục tăng. Điều này đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ cả phía cá nhân và nhà nước.

6.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, bao gồm việc cung cấp thông tin, tư vấn pháp lý và hỗ trợ tài chính.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn giữa công dân việt nam với người nước ngoài theo quy định của pháp luật việt nam trong xu thế hội nhập

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 1. Kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm kết hôn Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình, gia đình là tế bào của xã hội.

Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản mang tính chất xã hội của nó. Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là sinh sản nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống. Đó là một quá trình cần thiết của cuộc sống trong một xã hội nhất định. Quá trình này được thể hiện ở chỗ "hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái - đó là gia đình" [1].

Nếu không có sản xuất và tái sản xuất ra con người thì xã hội không thể phát triển, thậm chí không thể tồn tại được. Như vậy, gia đình là một trong những thể chế cơ bản của xã hội. Gia đình được ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho vợ và chồng. Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý - đăng ký kết hôn.

Như vậy, đăng ký kết hôn đã làm xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở để hình thành gia đình. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Thông qua nhà nước và bằng pháp luật, giai cấp thống trị tác động vào các quan hệ hôn nhân và gia đình làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội.

"Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt" [33]. Vì vậy, nhà nước ta luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm ổn định quan hệ này, "nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình…" [34]. Tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra khái niệm về kết hôn, theo đó: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" [33]. Theo quy định trên, kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn.

Kết hôn chính là sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quan hệ vợ chồng của hai người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ đối với nhau. Hệ thống pháp luật của nước ta quy định, việc kết hôn phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi yêu cầu đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và những giấy tờ cần thiết khác. Trong trường hợp có lý do chính đáng, một trong hai bên kết hôn không thể đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi cho cơ quan đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ tạm vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do vắng mặt và phải có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp cơ sở nơi người vắng mặt cư trú.

Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định: nam, nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố: Thứ nhất, việc kết hôn phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với nhau. Như vậy, trước hết kết hôn là một quyền gắn liền nhân thân của mỗi bên nam nữ. Quyền kết hôn xuất phát từ tình cảm yêu thương giữa nam và nữ. Bởi vậy, đó là quyền tự do của mỗi cá nhân và được pháp luật bảo vệ, điều này được thể hiện tại Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2005, theo đó: "nam, nữ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn" [35] và khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia đình: "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép, cản trở" [33].

Do vậy, sự tự nguyện của nam và nữ trong việc kết hôn vừa là điều kiện đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng gia đình bền vững. Đối với những trường hợp khi tiến hành đăng ký kết hôn có sự lừa dối, cưỡng ép để được kết hôn hoặc kết hôn giả tạo thì nhà nước không thừa nhận việc kết hôn đó là hợp pháp. Thứ hai, việc kết hôn phải được nhà nước thừa nhận. Theo quy định tại Điều 64 Hiến pháp 1992 thì: "Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình" [34].

Hôn nhân chỉ được nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Đó là điều kiện về tuổi kết hôn; điều kiện về sự tự nguyện và một số điều kiện về nhân thân khác (các trường hợp cấm kết hôn) được quy định tại Điều 9; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và việc kết hôn phải được đăng ký theo đúng quy định của pháp luật. Đáp ứng đủ những điều kiện trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành đăng ký việc kết hôn và ghi vào sổ kết hôn. Khi đó giữa các bên nam, nữ sẽ phát sinh quan hệ hôn nhân.

Như vậy, muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Có thể thấy rằng, pháp luật của nhà nước ta quy định các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn phần nào đã thể hiện tính khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, đồng thời cũng phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thông qua việc đăng ký kết hôn, nhà nước đã công nhận hôn nhân của đôi nam, nữ. Ở đây, sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể của các quan hệ trong gia đình như quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, đồng thời xác định rõ thời điểm xác lập các quan hệ đó.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết hôn có yếu tố nước ngoài Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn chưa có quy định cụ thể về khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ ghi nhận khái niệm về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, tại khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [33]. Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình còn quy định: "Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định ở nước ngoài" [33].

Việc nhận diện đúng "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và gia đình là hết sức cần thiết. Nhiều trường hợp không xác định đúng "yếu tố nước ngoài" nên gây không ít khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra tiêu chí để xác định "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Điều này đã khẳng định sự phát triển về lý luận của pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến hôn nhân và gia đình.

Từ những phân tích trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể hiểu là các quan hệ hôn nhân và gia đình sau: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài - Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài. - Quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trường hợp cụ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Do vậy, căn cứ vào khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, ta có thể đưa ra khái niệm về kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau: Kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, trong đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc việc kết hôn được xác lập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài.

Như vậy, theo khái niệm trên thì các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm: - Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; - Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau mà một trong các bên thường trú tại Việt Nam; - Kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài hoặc sự kiện kết hôn được tiến hành ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ