Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN 1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hoá 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (sau đây gọi tắt là LTM 2005): mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Vậy hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán hàng hóa, theo đó, bên mua và bên bán cùng nhau ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa để bên bán giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa, còn bên mua thì có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán để nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (Sau đây gọi tắt là BLTTDS 2004) thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Tòa án cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004 mà không thuộc thẩm quyền của cấp huyện; những tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa mà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thì thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Ngoài ra, không phải bất cứ một tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nào cũng đều là tranh chấp kinh doanh thương mại, một tranh chấp về 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại khi cả hai bên hoặc một trong hai bên có đăng ký kinh doanh và đều phải có mục đích lợi nhuận, nếu hai bên đều có đăng ký kinh doanh nhưng chỉ cần một bên không vì mục đích lợi nhuận thì cũng không phải là tranh chấp kinh doanh thương mại. Do vậy, việc xét xử theo thủ tục sơ thẩm các vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng và ở Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nói chung trên địa bàn cả nước được phân cho hai Tòa chuyên trách riêng biệt là Tòa Dân sự và Tòa Kinh tế. Ở phạm vi đề tài của luận văn, học viên mong muốn dành phần lớn nội dung của chuyên đề để nghiên cứu về loại tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại (có tính chất thương mại), được LTM 2005 điều chỉnh và được Tòa Kinh tế thụ lý giải quyết.
Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hiện nay ngoài việc xét xử sơ thẩm các tranh chấp về kinh doanh thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004 mà không thuộc thẩm quyền của cấp huyện, hoặc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng cấp tỉnh xét thấy cần thiết nên lấy lên giải quyết. Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội còn có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài hay còn gọi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Về mặt lý luận, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải đảm bảo cần và đủ hai yếu tố: thứ nhất, là hợp đồng mua bán hàng hóa trong lĩnh vực thương mại; thứ hai, hợp đồng này phải có yếu tố nước ngoài (yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể rơi vào một trong ba trường hợp là chủ thể, sự kiện pháp lý và đối tượng của hợp đồng).
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt pháp luật thực định, do cách tiếp cận, nhu cầu và mục đích khác nhau mà pháp luật mỗi nước, mỗi điều ước quốc tế hay tập quán có cách gọi tên cũng như xác định nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa một cách khác nhau. - Theo Điều 1 Phụ lục của Công ước La Haye 1964 về “Luật thống nhất về thiết lập mua bán hàng hóa quốc tế các động sản hữu hình” thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đóng trên lãnh thổ các quốc gia khác nhau nếu có một trong các điều kiện sau: Thứ nhất: hợp đồng liên quan đến vật mà trong thời gian ký kết hợp đồng vật đó được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác; Thứ hai, hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; Thứ ba, việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành hành vi chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng. - Công ước Viên 1980 của Liên Hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ quy định như sau: Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Áp dụng trong hai trường hợp cụ thể là: 1) Khi các quốc gia này là thành viên của Công ước; 2) Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của các nước thành viên công ước này.
Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến trong nhiều văn bản với các tên gọi khác nhau như hợp đồng mua bán ngoại thương (Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31-7-1991 của Bộ Thương nghiệp- Bộ Công thương ngày nay), hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài (Luật Thương mại Việt Nam năm 1997), hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa (LTM 2005). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay được quy định trong LTM 2005 và Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23-1-2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và các đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. LTM 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa được thực hiện dưới hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu” [39, Điều 27]. Như vậy, yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở đây chỉ là hàng hóa là đối tượng của hợp đồng phải được giao dịch qua biên giới.
Với những loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà hàng hóa không có sự dịch chuyển qua biên giới thì rõ ràng sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 2005. Tuy nhiên, với tư duy coi Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 (Sau đây gọi tắt là BLDS 2005) là “đạo luật gốc” bao trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế - thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động thì đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà hàng hóa không được chuyển qua biên giới quốc gia, chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng các quy định của BLDS 2005 đối với phần hợp đồng có yêu tố nước ngoài nói chung để điều chỉnh. Các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa Với việc coi BLDS 2005 là “đạo luật gốc” thì chúng ta thấy rằng, nhiều vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa được điều chỉnh bởi pháp luật không có sự khác biệt so với hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Bên cạnh đó, để phù hợp với bản chất thương mại của hợp đồng mua bán hàng hóa, một số vấn đề như chủ thể của hợp đồng, hình thức của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, chế tài và việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định trong pháp luật thương mại là sự phát triển tiếp tục những quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản.
Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm sau đây: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân. Khái niệm thương nhân theo quy định tại LTM 2005 như sau: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [39, Điều 6, Khoản 1]. Khái niệm thương nhân được đề cập đến trong LTM 2005 trên đây có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa cũng được ghi nhận đối với tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân khi các chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM 2005, khi đó quan hệ mua bán hàng hóa đó sẽ tuân theo các quy định của LTM 2005.
Khái niệm thương nhân nước ngoài không được LTM 2005 đề cập đến. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét khái niệm dưới đây: Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài và được pháp luật nước ngoài công nhận. Khái niệm này cần được phân biệt với khái niệm thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, bởi khái niệm thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là thương nhân có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam. * Về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo quy định tại LTM 2005 thì: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó” [39, Điều 24].