Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ CĂN CỨ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH 1. Khái niệm định tội danh Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh khái niệm định tội danh, cụ thể là: Theo Từ điển Luật học định nghĩa: “Định tội danh được hiểu là để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì phải định tội được theo tội danh mà luật hình sự quy định. Cơ sở của việc định tội phải dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm” [59, tr.
Viện kiểm sát khi quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án xét xử phải xác định cụ thể tội danh trong bản cáo trạng theo điều luật hình sự quy định. Sau khi kết thúc thủ tục tố tụng tại phiên tòa và nghị án, Tòa án (Hội đồng xét xử) quyết định cuối cùng về tội danh (định tội) và hình phạt áp dụng (lượng hình). Theo quan điểm của tác giả Dương Tuyết Miên: Định tội danh được hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [24, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, nhà thực tiễn Đoàn Tấn Minh quan niệm: Định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả (quy định) trong luật hình sự để giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật [26, tr.v… Những quan điểm nêu trên đã đề cập tương đối đầy đủ nội hàm của định tội danh.
Tuy nhiên, ở từng quan điểm thì chưa bao gồm hết các nội dung và đôi chỗ chưa phản ánh được bản chất và nội hàm của khái niệm định tội danh. Tổng hợp và kế thừa các quan điểm đã nêu, dưới góc độ khoa học và căn cứ từ bản chất của hoạt động định tội danh như trên có thể định nghĩa như sau: Định tội danh là một khâu quan trọng trong quá trình áp dụng quy phạm pháp luật hình sự, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự, được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định. Khái niệm này cho thấy mục đích của định tội danh là nhằm đạt được sự thật khách quan từ đó đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công bằng, minh bạch, rõ ràng và đúng pháp luật. Căn cứ pháp lý của việc định tội danh Dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, căn cứ pháp lý của việc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định tội danh có thể được hiểu trên hai bình diện hoặc theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp: - Theo nghĩa rộng, thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp), cũng như hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã được thực hiện là tội phạm.
- Theo nghĩa hẹp, thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là chỉ có hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm [7, tr. Có tác giả lại chỉ coi ở khía cạnh hẹp hơn, căn cứ pháp lý của việc định tội danh là Bộ luật hình sự mà cụ thể hơn là điều luật quy định về tội phạm cụ thể [25, tr. Theo Bộ luật hình sự, cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh. Bộ luật hình sự liệt kê, quy định tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm vào trong Bộ luật, điều này sẽ thể hiện trực tiếp nhất tại Điều 2 Bộ luật hình sự khi quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Do đó, trong quá trình định tội danh nếu hiểu theo nghĩa chỉ về nội dung thì Bộ luật hình sự có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, vì nó đóng vai trò là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) của việc định tội danh. Bộ luật hình sự hiện hành và các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự nếu có được coi là nguồn trực tiếp và duy nhất ghi nhận toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự được áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, cũng như quá trình định tội danh và quyết định hình phạt nói riêng. Chỉ có Bộ luật hình sự mới quy định tội phạm và hình phạt. Điều này cũng loại trừ khả 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng cho phép bất kỳ cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào được phép quy định, mở rộng hay thu hẹp hành vi phạm tội là tội phạm trong Bộ luật hình sự mà chỉ có Quốc hội với tư cách là cơ quan duy nhất có thẩm quyền đã được Hiến pháp quy định (đoạn 2 Điều 69 Hiến pháp năm 2013).
Hơn nữa, suy cho cùng thì bản chất của việc định tội danh chính là việc đối chiếu, so sánh, đánh giá và kiểm tra để xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của một tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự hay không. Bên cạnh đó, kết quả của việc định tội danh là đưa ra văn bản kết luận rằng một (hay nhiều) hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được xử lý bao quát quy phạm (điều luật) nào của Bộ luật hình sự, cho nên, chắc chắn rằng, việc định tội danh cần phải được viện dẫn đến quy phạm (điều luật) cụ thể nào đó của Bộ luật hình sự. Hiện nay, Bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm: - Phần chung: Bộ luật hình sự ghi nhận nhiệm vụ, nguyên tắc xử lý, các chế định cơ bản và quan trọng nhất của luật hình sự là tội phạm và hình phạt, cũng như các vấn đề khác như hình phạt, hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp, quyết định hình phạt, xóa án tích… - Phần các tội phạm: Bộ luật hình sự nêu tên tội, các dấu hiệu pháp lý hình sự cơ bản, loại và mức hình phạt cụ thể đối với từng hành vi phạm tội tương ứng. Việc áp dụng các quy định của Phần này phải dựa trên các quy phạm của Phần chung Bộ luật hình sự.
Ngược lại, các quy phạm của Phần chung cũng trở nên không có ý nghĩa nếu không có các quy phạm của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự. Như vậy, với tư cách là căn cứ của việc định tội danh, Bộ luật hình sự, mà cụ thể bao gồm cả Phần chung và Phần các tội phạm tạo thành căn cứ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung và thống nhất không thể thiếu khi định tội danh. Nói một cách khác, định tội danh là việc so sánh, đối chiếu các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội với những dấu hiệu được mô tả trong mô hình một loại tội phạm trong Phần các tội phạm tương ứng. Tuy vậy, các tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm lại chỉ nêu về tội phạm hoàn thành, trong khi đó, diễn biến tội phạm trên thực tế rất đa dạng, phong phú, đòi hỏi khi đó cần viện dẫn cả những quy định của Phần chung để xác định chính xác; cũng như chú ý tới hiệu lực của điều, khoản được viện dẫn về không gian và thời gian.
Có như vậy, việc định tội danh mới bảo đảm có căn cứ pháp lý vững chắc và đầy đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người đã thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ khoa học của việc định tội danh Cấu thành tội phạm là “hình thức phản ánh tội phạm trong luật, mô tả tội phạm trong luật thông qua các yếu tố của nó” [22, tr. Qua nghiên cứu các quy phạm của Bộ luật hình sự hiện hành cho thấy, khái niệm cấu thành tội phạm chưa được đề cập mà mới chỉ ghi nhận ở một mức độ hạn chế khi đặt ra điều kiện để không miễn trách nhiệm hình sự cho chủ thể là “nếu hành vi thực tế đã có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác” (Điều 19). Trong khi đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 xác định: “hành vi không cấu thành tội phạm” là một trong các căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng không khởi tố vụ án hình sự (khoản 2 Điều 107).
Do vậy, cấu thành tội phạm chính là căn cứ khoa học cùng với căn cứ pháp lý là Bộ luật hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, vì hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể thực hiện đã có đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của một cấu thành tội phạm tương ứng nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.