Luận văn thạc sĩ vnu ls bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới theo quy định của pháp luật việt nam và các điều ước quốc tế liên quan

Luận văn thạc sĩ phân tích bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

155
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ TẠI BIÊN GIỚI

1.1. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa

1.2. Bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới

1.3. Đặc điểm của việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới

1.4. Vai trò của việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới

1.5. Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới

1.5.1. Điều ước quốc tế

1.5.2. Pháp luật quốc gia

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ TẠI BIÊN GIỚI THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1. Pháp luật quốc tế

2.1.1. Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN

2.1.2. Hiệp định TRIPs

2.1.3. Luật mẫu về bảo vệ quyền SHTT của WCO

2.1.4. Các điều ước quốc tế trong khuôn khổ ASEAN

2.1.4.1. Hiệp định khung ASEAN về hợp tác SHTT
2.1.4.2. Kế hoạch cộng đồng kinh tế ASEAN
2.1.4.3. Hiệp định đối tác kinh tế ASEAN – Nhật Bản
2.1.4.4. Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Úc – Niu Zi Lân
2.1.4.5. Các điều ước quốc tế song phương
2.1.4.5.1. Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
2.1.4.5.2. Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
2.1.4.5.3. Hiệp định Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ SHTT và hợp tác trong lĩnh vực SHTT

2.2. Pháp luật một số quốc gia điển hình trên thế giới

2.2.1. Pháp luật của Mỹ

2.2.2. Pháp luật của Nhật

2.2.3. Pháp luật của Hàn Quốc

2.2.4. Pháp luật của Trung Quốc

2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2.3.1. Về quy định pháp luật

2.3.2. Về thực tiễn áp dụng

2.4. Pháp luật Việt Nam

2.4.1. Phạm vi kiểm soát biên giới

2.4.2. Thẩm quyền của cơ quan Hải quan

2.4.3. Xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới

2.4.4. Các quy trình nghiệp vụ của Hải quan về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới

2.4.4.1. Quy trình tiếp nhận, xử lý đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát và đơn yêu cầu tạm dừng làm thủ tục Hải quan
2.4.4.2. Quy trình nghiệp vụ bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới của cơ quan Hải quan

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ TẠI BIÊN GIỚI VIỆT NAM

3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam

3.1.1. Xây dựng pháp luật

3.2. Đăng ký kiểm tra, giám sát hàng hóa XK, NK liên quan đến SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới

3.3. Cơ quan Hải quan phối hợp với các cơ quan thực thi khác và chủ thể quyền, hợp tác quốc tế về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới

3.4. Thực trạng xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới và thực tiễn đấu tranh của cơ quan Hải quan

3.5. Những tồn tại và nguyên nhân

3.5.1. Các quy định pháp luật còn nhiều bất cập

3.5.2. Kết quả bắt giữ và xử lý vi phạm chưa tương xứng với nguồn lực và năng lực thực tế của cơ quan Hải quan

3.5.3. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan Hải quan và các cơ quan liên quan chưa thường xuyên và sâu rộng, hiệu quả còn thấp

3.5.4. Công tác phối hợp giữa cơ quan Hải quan với các chủ thể quyền SHTT còn hạn chế, chưa thật sự thiết thực

3.5.5. Nhận thức của xã hội về công tác bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới còn hạn chế

3.5.6. Dự báo tình hình xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới Việt Nam

3.6. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới Việt Nam

3.6.1. Hoàn thiện khung pháp lý

3.6.2. Nâng cao năng lực thực thi của cơ quan Hải quan

3.6.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đăng ký giám sát Hải quan về SHTT

3.6.4. Củng cố tổ chức bộ máy chuyên trách bảo vệ quyền SHTT tại cơ quan Hải quan

3.6.5. Tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan thực thi

3.6.6. Hợp tác với chủ thể quyền trong công tác bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá

3.6.7. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhận thức cộng đồng

3.6.8. Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới quốc gia

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Bộ máy bảo vệ quyền SHTT của Hải quan Việt Nam

Phụ lục 2. Số lượng đơn đăng ký giám sát nhãn hiệu tại cơ quan Hải quan (giai đoạn 2007 – 2011)

Phụ lục 3. Số liệu bắt giữ vi phạm quyền SHTT về nhãn hiệu của cơ quan Hải quan (giai đoạn 2007 – 2011)

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với nhãn hiệu hàng hóa là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Nhãn hiệu không chỉ là biểu tượng nhận diện sản phẩm mà còn là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Việc bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới Việt Nam không chỉ giúp ngăn chặn hàng giả, hàng nhái mà còn bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhãn hiệu hàng hóa được bảo vệ thông qua việc đăng ký và thực thi quyền SHTT. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới vẫn còn nhiều thách thức.

1.1. Khái niệm và vai trò của nhãn hiệu hàng hóa

Nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa của doanh nghiệp khác. Nhãn hiệu không chỉ giúp người tiêu dùng nhận diện sản phẩm mà còn tạo ra giá trị thương hiệu cho doanh nghiệp. Việc bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa giúp duy trì uy tín và chất lượng sản phẩm, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

1.2. Cơ sở pháp lý bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới

Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế về bảo vệ quyền SHTT, trong đó có Công ước Paris và Hiệp định TRIPs. Các quy định này tạo ra khung pháp lý cho việc bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới, giúp các doanh nghiệp có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình.

II. Thách thức trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới Việt Nam

Việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự gia tăng của hàng giả, hàng nhái và việc thiếu nhận thức của người tiêu dùng về quyền SHTT là những vấn đề cần được giải quyết. Ngoài ra, cơ quan Hải quan cũng gặp khó khăn trong việc kiểm soát và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT.

2.1. Tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới

Xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa diễn ra phổ biến tại các cửa khẩu. Hàng giả, hàng nhái không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Cần có các biện pháp mạnh mẽ hơn để ngăn chặn tình trạng này.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và công nghệ trong kiểm soát

Cơ quan Hải quan Việt Nam hiện đang thiếu hụt về nguồn lực và công nghệ để thực hiện công tác kiểm soát hàng hóa xâm phạm quyền SHTT. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giám sát hàng hóa là cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác này.

III. Phương pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa

Để bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các biện pháp này bao gồm việc tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng về quyền SHTT, cũng như cải thiện quy trình đăng ký và kiểm soát hàng hóa.

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền về quyền sở hữu trí tuệ

Tuyên truyền về quyền SHTT là một trong những biện pháp quan trọng giúp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Các chương trình giáo dục và đào tạo về quyền SHTT cần được triển khai rộng rãi để mọi người hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

3.2. Cải thiện quy trình đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

Quy trình đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cần được đơn giản hóa và minh bạch hơn. Việc này không chỉ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Hải quan trong việc kiểm soát hàng hóa.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Nghiên cứu về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới Việt Nam đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các cơ quan chức năng đã có những bước tiến trong việc kiểm soát hàng hóa xâm phạm quyền SHTT. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả công tác này.

4.1. Kết quả đạt được trong công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Trong những năm qua, cơ quan Hải quan đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa. Số lượng vụ việc xâm phạm quyền SHTT đã giảm đáng kể, cho thấy sự nỗ lực của các cơ quan chức năng.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác

Việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc bảo vệ quyền SHTT là rất cần thiết. Các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản đã có những biện pháp hiệu quả trong việc kiểm soát hàng hóa xâm phạm quyền SHTT mà Việt Nam có thể tham khảo.

V. Kết luận và hướng phát triển trong tương lai

Bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới Việt Nam là một vấn đề cấp bách và cần được quan tâm đúng mức. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả công tác này. Trong tương lai, việc áp dụng công nghệ thông tin và cải cách quy trình sẽ là những yếu tố quyết định đến thành công trong việc bảo vệ quyền SHTT.

5.1. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền SHTT, bao gồm cải cách quy trình, tăng cường công tác tuyên truyền và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.

5.2. Tương lai của bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Các doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình và hợp tác chặt chẽ với các cơ quan chức năng.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới theo quy định của pháp luật việt nam và các điều ước quốc tế liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ TẠI BIÊN GIỚI 1. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa Nhãn hiệu hàng hoá đã có từ thời cổ đại, thậm chí từ lúc con người còn tự cung cấp những gì họ cần cho bản thân nhiều hơn là mua chúng từ những người thợ thủ công. Thời đó, có những thương gia sáng tạo đã biết bán hàng hoá ra bên ngoài vùng sinh sống của họ và thậm chí có khi tới những vùng rất xa xôi. Cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran.

Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hoá mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng, kể cả nhãn hiệu FORTIS mà sau này đã trở nên nổi tiếng đến nỗi bị sao chép và làm giả. Nhờ việc kinh doanh phát đạt thời Trung cổ mà việc sử dụng các dấu hiệu để phân biệt hàng hoá của các thương gia và các nhà sản xuất đã khá phát triển. Tuy vậy, tầm quan trọng về mặt kinh tế của chúng vẫn còn hạn chế.65] Công nghiệp hoá và sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường cho phép các nhà sản xuất và các thương gia cạnh tranh đưa đến người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng cho hàng hoá cùng chủng loại. Thường nếu không có sự khác biệt rõ ràng đối với người tiêu dùng, chúng thường chỉ khác nhau về chất lượng, giá cả và các đặc tính khác.

Rõ ràng người tiêu dùng cần được hướng dẫn, giúp họ suy xét các lựa chọn và đi đến quyết định lựa chọn cho riêng mình trong số các hàng hoá cạnh tranh. Do vậy, hàng hoá cần phải được đặt tên. Phương tiện để đặt tên hàng hoá trên thị trường chính là nhãn hiệu hàng hoá.66] Bằng việc giúp người tiêu dùng có quyết định lựa chọn giữa những hàng hoá đa dạng được chào bán trên thị trường, nhãn hiệu hàng hoá khuyến khích chủ sở 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hữu các nhãn hiệu duy trì và nâng cao chất lượng các sản phẩm bán ra dưới nhãn hiệu đó, để đáp ứng sự mong đợi của người tiêu dùng và không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thị thường đối với các sản phẩm do mình sản xuất ra. Bởi vậy, nhãn hiệu hàng hoá “thưởng công” cho những người sản xuất hàng hoá chất lượng cao có nguồn thu nhập một cách ổn định và kết cục là nhãn hiệu hàng hoá kích thích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.66] Theo cách tiếp cận được lựa chọn tại Mục 1(1) của Luật Mẫu WIPO về nhãn hiệu thì một nhãn hiệu hàng hoá là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp này với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh [10].

Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu. Trong số này, có thể kể đến một số điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như Công ước Paris 1883 về bảo hộ SHCN, Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa Madrid, Hiệp định TRIPs. Tuy nhiên Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra được khái niệm về nhãn hiệu. Riêng Hiệp định TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu.

Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu” [35, 15]. Châu Âu bao gồm nhiều các quốc gia khác nhau nên có sự khác nhau trong luật về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên. Do sự khác nhau này và sự ảnh hưởng của nó đến thị trường chung Châu Âu nên cần thiết phải có sự điều chỉnh hài hoà ở cấp độ cộng đồng. Định nghĩa về nhãn hiệu được quy định ở Điều 2 Chỉ thị 89/104 và Điều 4 Quy định 40/94 của Cộng đồng chung Châu Âu (EC) như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết (represented graphically), đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác”.

Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng đạo luật Lanham. Khác với Việt Nam và Châu Âu, Lanham Act định nghĩa riêng biệt hai loại nhãn hiệu: nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ. Nhãn hiệu hàng hoá được giải thích như sau: “Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà: (1) được sử dụng bởi một người, hoặc (2) được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng hoá của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hoá được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó. Việt Nam là một thành viên của nhiều điều ước quốc tế về nhãn hiệu bao gồm Công ước Pari về SHCN và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid), Hiệp định TRIPs.

Trước khi có Luật SHTT, quyền SHTT ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT. Luật SHTT năm 2005 là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã được ban hành trước đó. Luật SHTT 2005 của Việt Nam không có điều khoản cụ thể nào về định nghĩa nhãn hiệu mà khái niệm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhãn hiệu được quy định trong phần giải thích từ ngữ. Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [13, 4].

Tuy nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng có thể trở thành nhãn hiệu vì điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại Luật SHTT như sau: “Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: 1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Nếu theo quy định tại Điều 4 Luật SHTT 2005, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì được hiểu rằng dấu hiệu chỉ cần đáp ứng chức năng phân biệt là đủ để được đăng ký nhãn hiệu, trong khi Luật SHTT Việt Nam chỉ chấp nhận các dấu hiệu nhìn thấy được. Như vậy, một nhãn hiệu có thể được bảo hộ nếu đáp ứng được hai điều kiện. Thứ nhất, dấu hiệu phải “nhìn thấy được”.

Quy định này hẹp hơn quy định của TRIPs “bất kỳ dấu hiệu nào”. Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu như âm thanh, mùi vị… không thể được đăng ký là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật SHTT Việt Nam. Thứ hai, “khả năng phân biệt” là điều kiện bắt buộc của nhãn hiệu. Đây cũng là chức năng chính của nhãn hiệu.

Đặc điểm này là đặc điểm chung của nhãn hiệu và do đó, nó giống với các điều ước quốc tế cũng như luật về nhãn hiệu của các nước trên thế giới. Nói tóm lại, “khả năng phân biệt” luôn luôn là đặc điểm cơ bản của nhãn hiệu. Cả luật Việt Nam, luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ đều không có điều khoản định nghĩa nhãn hiệu. Khái niệm nhãn hiệu được hiểu qua các điều khoản khác, chẳng hạn như quy định ở phần giải thích thuật ngữ (Việt Nam, Hoa Kỳ), hay 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong điều khoản quy định về “Các dấu hiệu là nhãn hiệu” (Châu Âu).

Các điều khoản này thường liệt kê các dấu hiệu thông thường có khả năng đăng ký nhãn hiệu. Mặc dù các quy định còn có những điểm khác nhau, song chúng đều giống nhau ở cách tiếp cận khái niệm theo chức năng phân biệt. Nhãn hiệu có nhiều chức năng, trong đó chức năng cơ bản nhất là tính phân biệt. Pháp luật của cả Việt Nam, Châu Âu và Hoa Kỳ phù hợp với pháp luật quốc tế đều dựa trên chức năng tính phân biệt để đưa ra khái niệm nhãn hiệu.

Luật SHTT Việt Nam không có điều khoản riêng về khái niệm nhãn hiệu, nhưng qua các điều khoản cụ thể có thể hiểu nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy được và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ quy định mở hơn đối với các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu. Đó là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt chứ không chỉ bó hẹp ở các dấu hiệu nhìn thấy được. Do đó, các dấu hiệu không thông dụng (unusual) như mùi vị, âm thanh… cũng có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu.

Do đó, thay vì việc giải thích từ ngữ, Luật SHTT Việt Nam nên xây dựng khái niệm nhãn hiệu để tránh các cách hiểu không thống nhất. Nếu theo quy định tại Điều 4 Luật SHTT (giải thích từ ngữ) thì sẽ bị hiểu rằng dấu hiệu chỉ cần đáp ứng chức năng phân biệt là đủ để được đăng ký nhãn hiệu, trong khi Luật SHTT Việt Nam chỉ chấp nhận các dấu hiệu nhìn thấy được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ