Chương 1: Khái quát về tôn giáo Baha’i Chương 2: Biéu tượng trong tôn giáo Baha’i Chương 3: Ý nghĩa của biểu tượng trong tôn giáo Baha’i CHUONG 1: KHÁI QUÁT VE TON GIÁO BAHA’I 1. Sự ra đời và phát triển của Baha’i Hiện nay, Iran là một cường quốc khu vực và tầm trung, với vi trí địa lý — chính trị chiến lược quan trọng ở Châu Á, là một trong những thành viên sáng lập của Liên Hợp quốc. Di sản văn hóa phong phú của đất nước này được phản ánh một phần bởi 26 di sản thế giới được UNESCO công nhận. Người Iran kế thừa những gia tri của nén van minh Ba Tu, vi vậy mà đời sông tôn giáo — xã hội của đất nước này rất phong phú.
Về mặt xã hội, trong giai đoạn thế kỷ XVIII-XIX, đất nước Ba Tu rơi vào suy thoái và khủng hoảng kinh tế. Hai lần chiến tranh với nước Nga cùng sự phát triển lan rộng của các nước Châu Âu khiến Ba Tư mat dan lãnh thé. Do những bat ồn cả về kinh tế, chính trị và xã hội, nhân dân Ba Tư rơi vào cảnh khó khăn, lầm than, không còn chỗ dựa dẫn đến tình trạng mê tín dị đoan lan rộng, các tôn giáo thù ghét lẫn nhau, dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt trong đời sống tinh thần giữa các tín đồ. Do vậy cần có một tôn giáo có tư tưởng dung hòa, kế thừa các tôn giáo truyền thống đề hướng người dân đến với cuộc sống hoà bình, ồn định.
Về văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo, đất nước Ba Tư có những di sản văn hoá lâu đời và phong phú về nhiều khía cạnh, đồng thời cũng là nơi quy tụ nhiều tôn giáo lớn như Islam, Do Thái giáo, Kito giáo, Bái Hoả giáo,. tuy nhiên phần đông van là Islam dòng Shi’a. Năm 873, vi Imam cuối cùng của dòng Shi’a đột nhiên mat tích, các tín đồ vẫn tin răng Thượng Đề sẽ chỉ định một người kế vị và khôi phục lại truyền thống Shi’a. Từ đó làm rộ lên các phong trào như phong trào Shaykhi (tìm kiếm “Dang sẽ đến”) và họ đều mong đợi cũng như tìm kiếm sự xuất hiện Dang Hứa hẹn của Thượng Dé, là Dang Qaim (Ca-im).
Từ “Qaim” có nghĩa là Dang sẽ Đứng lên. Đức Bab xuất hiện và ứng nghiệm khi các Thánh kinh xưa cũng như triết lý Shaykhi đều nhắc đến Ngài. Tôn giáo Babi được Đức Bab sáng lập, nhưng chính Ngài lại tuyên bố sự xuất hiện của mình là để chuẩn bị cho sự giáng thế của Đức Baha°u'llah — Dang Biểu hiện của Thuong Dé và là Dang Giáo tổ của tôn giáo Baha’i ngày nay. Nguồn gốc của Baha’i bắt đầu từ năm 1844 qua lời tuyên bố của một chàng trai trẻ, Siyyid ‘Ali-Muhammad, ở Shiraz, Ba Tu (nay là Iran), rang Ngai đã được Thượng Đề sai đến dé chuẩn bi cho nhân đón mừng sự xuất hiện của một Sứ giả khác thậm chí còn vĩ đại hơn chính Ngài.
Siyyid ‘Ali-Muhammad lấy danh hiệu Bab (có nghĩa là "Cánh cổng" trong tiếng A Rập) và tuyên bố rằng Dang mà Ngài tiên báo sẽ xuất hiện chính là Dang Biểu hiện hoàn vũ đến từ Thượng Dé, được cử đến để mở ra một thời đại hòa bình và thức tỉnh nhân loại như lời hứa hẹn trong Kinh sách của các tôn giáo lớn trên thế gidi. Những lời day của Đức Bab được lan truyền nhanh chóng, nhưng đồng thoi cũng bị giới tăng lữ và chính phủ Ba Tư coi là di giáo.000 tín đồ của Ngài, được gọi là Babi, đã thiệt mạng trong một loạt vụ thảm sát trên khắp đất nước. Bản thân Đức Bab cũng bị hành quyết công khai tại thành phố Tabriz vào ngày 9 tháng 7 năm 1850. Người Baha’i coi Đức Bab là Dang Sứ giả độc lập của Thượng Dé, đồng thời cũng là Dang tiền phong của Đức Baha’u’llah (danh “Baha’u’llah” có nghĩa là "Vinh quang của Thượng Dé" trong tiếng A Rập), là Dang sáng lập Tôn giáo Baha'i.
Sau đó, Đức Baha’u’llah, tên là Mirza Husayn ‘Ali, sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Tehran vào ngày 12 tháng 11 năm 1817. Vào giữa những năm 20 tuổi, Ngài từ chối cuộc sống đặc quyền va trở thành một trong những đệ tử hàng đầu của Đức Bab. Năm 1852, trong cuộc đàn áp các Babis, Ngài bị bắt, bị đánh đập và bị tống vào ngục tối khét tiếng ở Tehran. Sau bốn tháng, Ngài được trả tự do và bị trục xuất khỏi quê hương — khởi đầu của 40 năm lưu day và tù day.
Giai đoạn đầu tiên Ngài bị trục xuất đến Baghdad, nơi Ngài và những người bạn đồng hành của Ngài đã ở đó 10 năm. Vào năm 1863, trước ngày Ngài bị day đến Constantinople và Adrianople, nơi ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ và sau đó là Thánh địa Akka, Đức Baha°u'llah đã tuyên bố rằng Ngài là Sứ giả Hoan vũ của Thượng Đề đã được Đức Bab báo trước. Năm 1868, Đức Baha’u’llah đến Thánh địa cùng với khoảng 70 thành viên gia đình và tín đồ, bị chính quyền Ottoman kết án giam giữ vĩnh viễn tại thuộc địa hình sự Acre. Lệnh giam giữ không bao giờ được dỡ bỏ, nhưng nhờ sự công nhận ngày càng cao về nhân cách xuất sắc của mình, cuối cùng Đức Baha’u’llah đã có thé di chuyền ra ngoài bức tường của thành phố lao tù.
Ngài sống những năm cuối đời tại một ngôi nhà nông thôn tên là Bahji, nơi Ngài qua đời vào năm 1892. Ngài được an táng ở đó, và đền thờ nơi đặt di cốt của Đức Baha°u'llah được coi là Thánh lăng linh thiêng nhất trên trái đất đối với người Baha'i. Trong 40 năm lưu day, Đức Baha’u’llah đã mặc khải nhiều Kinh bản và Thư từ mà ngày nay các Thánh thư này làm nền tang đức tin để người Baha’i ứng dụng và truyền bá, tất cả bao gồm khoảng hơn 100 tập. Các Thánh thư của Đức Baha’u’llah mô tả ban chất thế giới của Thượng Dé là thuộc linh và ban chất thực sự của con người là linh hồn cũng như mục đích ton tại của nó, Ngài đưa ra các luật tôn giáo mới và vạch ra tầm nhìn nhằm tạo ra một xã hội toàn cầu hòa bình và thịnh vuong.
Trong Chúc thu của Ngai, Đức Baha’u’Ilah đã chỉ định trưởng nam cua Ngai, ‘Abbas Effendi (1844-1921), là người đứng dau tôn giáo Baha’i và có thâm quyền diễn giải các giáo lý của Ngài. ‘Abbas Effendi, được người Baha’i gọi là Đức 'Abdu’1-Baha, trở nên nồi tiếng ở khu vực Haifa và Akka nhờ các công việc từ thiện của Ngài. Bên cạnh đó, Ngài cũng đã đi khắp Châu Âu và Bac Mỹ dé củng có các cộng đồng Baha’i mới thành lập và đồng thời tuyên bố giáo ly của Đức Baha°u'llah cho công chúng. Các tác phâm của Đức “Abdu'I-Baha được coi là một trong những Thánh thư thiêng liêng của tôn giáo Baha’i.
Đức Abdu’l-Baha qua đời năm 1921. Trong di chúc, Ngài đã chỉ định cháu trai Shoghi Effendi (1897-1957) làm người kế vị, với danh hiệu Giáo hộ của Đạo Baha’i. Trong thời kỳ Shoghi Effendi, tôn giáo Baha’i đã lan rộng khắp thế giới và các cơ quan hành chính địa phương và quốc gia đã được thành lập. Với sự qua đời của Shoghi Effendi vào năm 1957, dòng dõi các nhà lãnh đạo kế truyền của Tín ngưỡng Baha’i đã cham dứt, điều này đã được đề cập từ trước trong Thanh kinh Thiéng liêng Nhat (The Kitáb-i-Aqdas) của Đức Baha'u'llah.
Năm năm sau khi Đức Shoghi Effendi qua đời vào năm 1957, các đại diện Baha'i từ các Hội đồng Tinh thần Quốc gia khác nhau (các hội đồng Baha’i được bầu cử dân chủ) trên toàn thế giới, đã gặp nhau vào năm 1963 tại Haifa, Israel, để bầu ra Tòa Công lý Quốc tế đầu tiên, gồm chín thành viên (được bầu 5 năm một lần do các ủy viên Hội đồng Quốc gia Baha'i trên khắp thế giới) hiện chỉ đạo các công việc có tính toàn cầu của Baha’i, có tru sở trên Núi Carmel 6 Haifa, Israel. Đây được coi là một cơ cấu thiêng liêng, vì chính Đức Baha’u’llah đã tuyên bố rõ ràng trong Thánh kinh Thiêng liêng Nhất (The Kitáb-i-Aqdas) răng Tòa Công lý Quốc tế là cơ cầu thiên ban và không sai lầm. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi nơi trên thế giới đều cởi mở với truyền thống Baha’i. Kể từ Cách mang Islam năm 1979, Cộng hòa Iran đã đàn áp cộng đồng Baha’i một cách có hệ thống.
Thông qua các biện pháp hà khắc loại trừ người Baha'i khỏi sự bảo vệ của Hiến pháp Iran, người Baha’i bi hạn chế khỏi các quyên hiến pháp, trong khi các tôn giáo thiểu số khác được hưởng. Niềm tin của Baha’i thừa nhận rang có một Dang Thượng Dé chân chính duy nhất “Tén Tai nhưng không thể nhận thức được”, vượt xa tầm hiểu biết của con người. Nói cách khác, Thượng Đề là Đắng không thể hiểu hay nắm bắt, mà chỉ có thể cảm nhận qua cầu nguyện và suy tưởng. Thượng Đề là Đắng Tối Huyền bí, nhưng lại biểu hiện ở khắp mọi nơi qua sự sáng tạo của Ngài.
Vì bản thể của Thượng Đề là không thé nhận thức được nên chỉ có bản chất va ý muốn của Thượng Đề mới có thé được trân trọng. Tư tưởng chung của tôn giáo Baha’i về sự thống nhất như Đức Baha’u’llah tuyên bố: “Trái đất là một quốc gia, nhân loại là công dân của quốc gia đó” và đặc biệt, thế giới nằm trong chuỗi các “Mặc khải Liên tục” của Thượng Dé, các Sứ giả của Ngài lần lượt xuất hiện trong suốt tiến trình lich sử dé hình thành các tôn giáo thế giới nhăm đổi mới và khuếch trương tinh thần giáo lý và ban bố các luật tâm linh phù hợp với xã hội đương thời. Các Dang Sứ giả của Thượng Dé từ thời đại này đến thời đại khác xuất hiện theo ý chí và mục đích của Ngài. Họ là các Dang Tiên Tri sáng lập ra một tôn giáo như Chúa Jesus, Đức Phật, Đức Muhammad, Đức Bab, Đức Baha°u'llah,.
người Baha’i đều nhìn nhận các Ngài là Dang Biểu Hiện của Thượng Dé. Do vậy, người Baha’i tin rang các tôn giáo đều có chung một nguôn gốc. Người Baha’i tin rang Đức Baha'u'llah đã ứng nghiệm những lời tiên tri của nhiều tôn giáo, chăng hạn, người Baha'i coi Đức Baha’u’Ilah là sự trở lại của Chúa Kitô.