chương 1. Quá trình sáng tác Sự nghiệp văn chương của nhà văn Phan Tứ là một hành trang gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc. Từ truyện ngắn Một ngày bên đồn địch, tiểu thuyết Bên kia biên giới, Trước giờ nổ súng viết về kháng chiến chống Pháp đến những tác phẩm ra đời ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ: Về làng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi, Trại S.18 và Người cùng quê như một bộ biên niên sử phản ánh trung thực những bước đi đầy khó khăn nhưng tất thắng của cách mạng miền Nam. Trước khi viết cái gì ông đều làm đề cương chi tiết đưa bạn bè đọc, cấp trên xem xét và góp ý.
Cuộc sống quân ngũ khắc nghiệt đã rèn cho Phan Tứ một nếp sống chặt chẽ, ngăn nắp và điều này ảnh hưởng tới phong cách sáng tác của ông. Đó là “phong cách hiện thực tỉnh táo”. Bên cạnh đó, theo tác giả Trần Đăng Suyền thì ngòi bút Phan Tứ có “cái duyên thầm, đôi khi pha chút hóm hỉnh”. Nhà văn đặt ra chỉ tiêu một tháng một truyện ngắn, hai mươi trang tiểu thuyết.
Vì vậy cuối đời, Phan Tứ có số lượng tác phẩm phong phú, dày dặn. Sau truyện ngắn đầu tay Một ngày bên đồn địch (1957) chưa gây được tiếng vang lớn, đến năm 1958 ông cho xuất bản tiểu thuyết Bên kia biên giới. 17 Theo Nguyễn Gia Nùng – người bạn của Phan Tứ đã kể lại tâm sự của nhà văn: “sở dĩ anh viết Bên kia biên giới vì sau những năm tháng tham gia chiến đấu chống Pháp ở nước bạn Lào, anh bị thương, có một thời gian dài phải nằm điều trị trong bệnh viện. Thời gian ấy, anh có điều kiện đọc nhiều sách nhất.
Tủ sách của bệnh viện và sách nhờ bạn bè tìm giúp anh đều đọc hết và anh rất ngạc nhiên là chưa thấy có sách nào viết về bộ đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu ở chiến trường Lào” [86, tr.Từ trên giường bệnh, Phan Tứ âm thầm “thai nghén” tác phẩm này và ít lâu sau khi ra viện ông cho xuất bản. Ông kể rằng: “Khi ra Bắc tập kết, tụi mình đóng quân ở miền tây Nghệ An. Ngoài lúc luyện tập, làm công tác dân vận, rảnh rỗi mình ngồi ghi lại những chuyện hồi mình sống ở Lào. Lúc đầu, mình lấy tên tập bản thảo đó là Những người tình nguyện….
Mình phải viết đi viết lại tới bốn lần, đến năm 1958 mới được in với tên Bên kia biên giới” [89, tr. Khi theo học trường Tổng hợp, nhà văn bắt tay vào viết và hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ hai với tay nghề vững vàng hơn: Trước giờ nổ súng cũng lấy đề tài từ cuộc sống và chiến đấu của bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào. Qua hai tác phẩm, nhà văn đã đặt ra vấn đề nóng bỏng về chiến tranh, về tinh thần Quốc tế vô sản, tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc. Cả hai tiểu thuyết trên đều ca ngợi, biểu dương chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như phê phán mặt tiêu cực, thoái hóa của nhân vật chiến sĩ.
Năm 1960, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Trở về Hà Nội và tiểu thuyết Trước giờ nổ súng. Trong gần 7 năm ở miền Bắc, Phan Tứ “luôn hình dung miền Nam là một kho thuốc súng đang đợi châm ngòi, chỉ cần một mồi lửa gí vào là Mỹ - ngụy tan xác ngay” [120, tr. Nhưng khi ông đi phát động quần chúng ở khu V thì thấy thực tế không đơn giản như vậy. Ông nghĩ rằng nên có bài viết về một mặt khác của hiện thực: “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh 18 hùng cách mạng của những con người bình thường và cả những người lạc hậu nữa” [120, tr.
Về làng (1964) ra đời trong hoàn cảnh đó, gồm 12 truyện ngắn với bút pháp hiện thực già dặn, sắc sảo, kết cấu gọn gàng và lời văn trong sáng đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của ông. Nhân vật được xây dựng từ góc độ chuyển biến tư tưởng qua những băn khoăn vướng mắc, cuối cùng tìm ra con đường đi theo cách mạng. Tuy nhiên những nhân vật có tính bi kịch chưa được khai thác sâu vào tâm trạng với những dày vò quá phức tạp. Theo Nguyên Ngọc thì “Những sáng tác này của Phan Tứ có liên quan máu thịt với cuộc tranh cãi quyết liệt mà anh - và tất cả chúng tôi lao vào hồi bấy giờ.
Vấn đề nóng bỏng nhất lúc này là đánh giá quần chúng, nhận thức về quần chúng và bao giờ cũng vậy quan trọng nhất là nhận thức về các khối quần chúng ấy, quần chúng trung gian, đông đảo, “số đông im lặng”. Họ sẽ đi với ai trong bão tố này?” [78, tr. Phan Tứ đã nói về ý định đặt tên tập truyện ngắn Về làng: “cái tên ấy cũng phản ánh nỗi khát khao của tôi trong những năm dài chiến đấu ở Hạ Lào và tập kết ra miền Bắc: tôi ao ước được về đánh giặc ngay trên làng quê tôi, vùng đồng bằng Quảng Nam thân yêu” [120, tr. Từ cuối năm 1962, Phan Tứ trở về Tứ Mỹ sống tại cơ sở gia đình cách mạng (nhà bà Tôn).
Tại đây, Phan Tứ đã “thai nghén” quyển tiểu thuyết Gia đình má Bảy. Gia đình má Bảy là bức tranh toàn diện và sâu sắc, phản ánh cách mạng miền Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960 - 1961. Với tiểu thuyết này, Phan Tứ đã tái hiện con đường đi tới chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tập thể quần chúng thông qua nhân vật trung tâm là bà mẹ của một gia đình. Tiểu thuyết này đã khắc phục nhược điểm trong cách xây dựng nhân vật ở Về làng.
Nhà văn đã mô tả nhân vật với quá trình phát triển của tính cách, phân tích tâm trạng trong sự chuyển biến vươn lên phù hợp với không khí của phong trào đồng khởi. Trong nhật ký chiến trường, Phan Tứ đã ghi lại 19 phác thảo chân dung cho tập “Má Bảy” (tức Gia đình Má Bảy), thấy được quá trình diễn biến tư tưởng của nhân vật má Bảy: “ 1. Nhà má Bảy Hình dáng. Tính nết: chăm, thật thà, nói lẹ.
Vui và buồn trong đời. Tính nết về già. Một tối: (gần Tết, tháng Chạp) Sạn đi ráp về. Đứa cháu con cảnh sát trưởng Rân.
Mẹ con xô xát. Sâm buôn ham tiền ăn diện. Đêm Gành tới. Má lạy van sợ giết con, rồi sợ địch khủng bố.
Sâm hỏi thăm anh. Sau: thấy yên, liên lạc tiếp. Thuế khóa, học tố. Đêm khởi nghĩa: Trà Thọ nổi trước hai đêm.
Mít tinh tố khổ. Sạn lên tố, má lo. Thấy rầm rộ, hạ uy thế địch, má tin. Thắc mắc sao không cho hợp pháp, cán bộ gạt (tên Gành, dân biển, vui, hăng, chủ quan, tiểu tư sản).
Sạn du kích. Sâm nữ thanh niên bị nghi quen lính và buôn. Bê an ủi. Qua nhiều lần chỉnh sửa, đến cuối tháng 12 năm 1965, Phan Tứ viết lại và hoàn thành tiểu thuyết Gia đình Má Bảy.
Trong tiểu thuyết này, Phan Tứ “phải “lên gân” mới tăng được độ lãng mạn” [53, tr. “Gia đình má Bảy được viết bằng tấm lòng của những người chiến sĩ, người con yêu quý của miền Nam, học tập và trưởng thành trên đất Bắc, trở về quê hương nơi chôn rau cắt rốn, tôn vinh, ngợi ca má Bảy, bà mẹ anh dũng vô danh đại diện cho hàng ngàn bà mẹ sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” [129]. Năm 1968, ông xuất bản tiểu thuyết Gia đình má Bảy, tập truyện ngắn Trong đám mía. Tháng 3 năm 1965, giặc Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng rồi vào Chu Lai.
Ông đã xuống vùng nam Tam Kỳ để lấy tài liệu và có một cô gái tên là Phận trong Ban Tuyên huấn Tam Kỳ dẫn đường cho nhà văn. Cô gái ấy về sau trở thành nhân vật Mẫn trong tiểu thuyết Mẫn và Tôi. Tiểu thuyết này được sáng tác 20 trên chất liệu trải nghiệm cuộc đời của nhà văn. Tác phẩm tái hiện chân thực cuộc chiến đấu của Làng Cá thuộc Khu V với đế quốc Mỹ trong hai cuộc chiến tranh đặc biệt và cục bộ.
Trung tâm của truyện là xây dựng những tính cách anh hùng tiêu biểu cho lớp thanh niên: cô Mẫn – bí thư chi bộ xã Tam Sa; Thiêm – cán bộ quân chủ lực. Mẫn và tôi đánh dấu một bước phát triển mới của Phan Tứ về phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Tác phẩm đáp ứng được nhu cầu cấp bách của thời đại bấy giờ: “Làm sao có những tác phẩm lớn để ghi lại những trang sử oanh liệt, những tác phẩm bao quát, miêu tả lại những giai đoạn lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này” (trích lược bài nói chuyện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng với anh chị em làm công tác văn học nghệ thuật ngày 6 - 2- 1973, Báo Văn nghệ, số 314, ngày 7- 9 - 1973). Với Gia đình má Bảy và Mẫn và tôi, “Phan Tứ có tham vọng dựng lên những bức tranh quy mô rộng lớn, xứng với tầm vóc hoàng tráng của cuộc chiến đấu đã đi vào lịch sử và làm vang động thế giới” [126, tr.
Năm 1972, ông lần lượt cho xuất bản: bút ký Măng mọc trong lửa, tiểu thuyết Mẫn và tôi.18 (xuất bản 1974) – kết quả của 6 tháng (1963) công tác tại trại tù binh Mỹ. Dưới hình thức là nhật ký của một phóng viên, Phan Tứ tái hiện cuộc chiến đấu căng thẳng, không đổ máu nhưng gian khổ của chiến sĩ giải phóng Việt Nam trong việc huấn luyện tù binh Mỹ. Tác phẩm là sự cắt nghĩa nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của chân lí cách mạng: “Ta càng đổ máu thì càng khao khát thêm bạn bớt thù, ta càng nắm chắc phần thắng thì càng đối xử cao thượng với kẻ đang hoặc sẽ thua trận, ta càng nhân đạo thì chính nghĩa của ta càng tỏa sáng trên trái đất này”[44]. Sau đêm Đà Nẵng giải phóng (1975), Phan Tứ viết tùy bút Khi cuộc sống vượt xa ước mơ và hàng loạt bút ký phóng sự phản ánh kịp thời không khí miền Nam sau những ngày thống nhất.
Đến năm 1984 hồi ký Trong mưa núi ra đời chứa đựng những kỷ niệm không quên trong thời hoạt động cách 21 mạng và sáng tác đầy gian khổ, bền bỉ và tràn trề nhiệt huyết của nhà văn. Tiếp đó, ba tập tiểu thuyết Người cùng quê (1985) được xuất bản. Người cùng quê là bộ tiểu thuyết mà nhà văn đã nung nấu ngay từ năm 1961.